Lịch sử Giáo dục Triệu Phong

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

            Phòng Giáo dục huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị  chính thức được thành lập ngày 02 tháng 4 năm 1976 theo quyết định số 29/QĐ của UBND Cách mạng tỉnh Quảng Trị, trên cơ sở quyết định số 106/QĐ ngày 10 tháng 11 năm 1972 của UBND Cách Mạng tỉnh Quảng Trị về  việc điều động ông Nguyễn Văn Truyền-giáo viên cấp 3 về làm cán bộ giáo dục của huyện; Quyết định của Ty giáo dục tỉnh Quảng Trị và UBND Cách mạng huyện Trệu Phong phân công ông Nguyễn Văn Truyền phụ trách phòng GD Triệu Phong. Thực chất, giáo dục Triệu Phong do đòi hỏi của phong trào cách mạng địa phương vào những năm 1972-1973, những năm tháng sôi sục chuẩn bị giải phóng toàn vẹn quê hương đã hoạt động tích cực và hiệu quả. Có thể coi đây là giai đoạn mở đầu đầy khí thế, mang đậm chất anh hùng ca của sự nghiệp giáo dục Triệu Phong.

Đến nay, ( năm học 2004-2005), Phòng giáo dục Triệu Phong đã kinh qua gần 35 năm hoạt động và 30 chính thức thành lập đã trưởng thành, phát triển và để lại dấu ấn tốt đẹp cho phong trào giáo dục Triệu Phong trong tiến trình Cánh mạng của quê hương.

Cuốn sách nhỏ Giáo dục Cách mạng Triệu Phong từ 1945 đến 2005” ghi lại chặng đường phát triển rực rỡ của giáo dục Triệu Phong dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền huyện Triệu Phong. Cuốn sách tập trung phản ánh sự nghiệp giáo dục Triệu Phong từ năm 1972 đến nay.Những người biên soạn cuốn sách này xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Phong; cán bộ và nhân dân Triệu Phong đã tạo dựng, vun đắp nên thành quả đáng tự hào của nền giáo dục cách mạng huyện nhà.

Chúng tôi xin gửi lời chúc mừng đến tất cả quý thầy cô giáo, từ những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng giáo dục Triệu Phong trong thời kỳ trứng nước đầy gian khó, thử thách đến đội ngũ thầy cô hùng hậu ngày nay đang ngày đêm miệt mài, góp công sức, trí tuệ, tâm huyết cho ngành GD-ĐT Triệu Phong bừng nở trong giai đoạn mới; xin gửi đến các học sinh Triệu Phong từ thế hệ những năm 70 cùng ngành giáo dục non trẻ, vừa học tập rèn luyện vừa lao động xây dựng trường lớp, nay đã đang công tác trên mọi miền Tổ quốc và các em học sinh thế hệ mới đang học tập, tu dưỡng trong mái ấm giáo dục huyện nhà. Những trang truyền thống giáo dục Triệu Phong này góp phần tô điểm trang sử của quê hương, một quê hương Cách mạng- quê hương hiếu học.

Để tiện việc theo dõi và phục vụ có hiệu quả cho công tácc giáo dục truyền thống về ngành giáo dục, cuốn sách được biên soạn theo các phần :

Phần I: Sự hình thành mảnh đất Triệu Phong và bản chất tốt đẹp, truyền thống Cách mạng - hiếu học của người dân Triệu Phong xưa - nay.

Phần II: Đảng bộ huyện Triệu Phong lãnh đạo công tác giáo dục qua các thời kỳ Cách mạng, gồm:

1/ Hội nghị “Bí thư đoàn” Triệu Phong (4/1930) với chủ trương mở rộng việc học chữ Quốc ngữ cho mọi người.

2/ Đảng bộ Triệu Phong chỉ đạo thành lập “ Hội truyền bá Quốc ngữ trong phong trào mặt trận dân chủ 1936-1939”

3/ Đảng bộ Triệu Phong quan tâm lãnh đạo phát triển giáo dục giai đoạn 1945-1954.

4/ Vài nét về giáo dục Triệu Phong trong thời kỳ Mỹ-Nguỵ ( 1955-1971 )

5/ Đảng bộ Triệu Phong lãnh đạo phong trào giáo dục từ 1972-1975.

Phần III: Giáo dục Triệu Phong 34 năm phát  triển và 30 chính thức thành lập Phòng giáo dục.

1/ Giáo dục Triệu Phong những ngày đầu tiên (1972-1975).

2/ Giáo dục Triệu Phong từ những ngày chính thức thành lập Phòng tháng 04/1976 đến năm 1989 - Thời kỳ Bình Trị Thiên.

3/ Giáo dục Triệu Phong trong thời kỳ tái lập lại huyện (1990-2000).

4/ Giáo dục Triệu Phong trong thời kỳ 2000-2005.

Phần IV: Phụ lục

Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các cá nhân, đơn vị, cơ quan... đã tạo điều kiện cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành tập sách này.

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do những khó khăn khách quan, chắc chắn tập sách phản ánh chưa đầy đủ và không trách khỏi thiếu sót, kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo trong ngành cũng như bạn đọc gần xa.

Xin trân trọng cảm ơn!

                                                                                   Ban biên tập

         Chỉ đạo nội dung: Nhà giáo Lê Hữu Các – Trưởng phòng GD-ĐT triệu Phong.

Biên tập: Nguyễn Văn Ánh

Với sự tham gia các nhà giáo lão thành, cán bộ lâu năm trong ngành giáo dục.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN I

 

SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT TRIỆU PHONG VÀ BẢN CHẤT TỐT ĐẸP, TRUYỀN THỐNG CÁNH MẠNG - HIẾU HỌC CỦA NGƯỜI DÂN TRIỆU PHONG XƯA-NAY.

Triệu Phong qua biến thiên của lịch sử luôn là mảnh đất địa linh, nhân kiệt của tỉnh Quảng Trị, của dân tộc.

Theo “Ô châu cận lục” của Dương Văn An, vào đầu thế kỷ XIV, với sự hy sinh cao cả, ngậm ngùi lên xe hoa về làm dâu nước Chiêm Thành của Huyền Trân Công Chúa, nước Đại Việt có thêm Châu Ô và Châu Lý. Cùng với cuộc hành quân vào Nam của Nguyễn Hoàng, đất Quảng Trị mở mang thành một cõi dài rộng. Lịch sử ghi rằng: Nguyễn Hoàng vào Nam (1558 ), đoàn người nghĩa dũng đi bằng thuyền đổ vào Cửa Việt, dựng dinh ở Ái Tử ( Sau gọi là kho Cây Khế ), thuộc huyện Đăng Xương, Quảng Trị, thủ phủ nhà Nguyễn. Nguyễn Hoàng nhanh chóng  tập hợp hào kiệt các vùng, chiêu hiền đãi sĩ, giảm sưu, hạ thuế...Khiến lòng dân trăm họ mến phục. Ông được tôn vinh là Chúa Tiên hay Tiên Chủ, dời dinh về làng Trà Bát (Triệu Giang- Triệu Phong ).

 

Về cái tên Triệu Phong:

Theo bản đồ nước Đại Việt thì từ năm 1306 đã có tên phủ Triệu Phong. Sách ”Phủ biên tạp lục” cho biết huyện Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong gồm Tổng An Phúc của huyện Hải Lăng và Tổng An Lạc của huyện Cam Lộ.

Năm 1307, nhà Trần đổi tên Châu Ô thành Châu Thuận và chia Châu Thuận thành 4 huyện, trong đó có huyện Hoa Lăng ( đẹp và rộng ). Năm 1469, vua Lê Thánh Tông đổi tên Hoa Lăng thành Võ Xương thuộc phủ Triệu Phong. Năm 1604, Nguyễn Hoàng đổi thành huyện Đăng Xương. Năm 1918-1919, đời vua Khải Định được gọi là phủ Triệu Phong.

Sau Cánh mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chủ trương bỏ Tổng, bỏ Phủ và đổi phủ Triệu Phong thành huyện Triệu Phong.

Năm 1956, Ngô Đình Diệm chia Triệu Phong thành 3 quận: Quận Triệu Phong , quận Đông Hà và quận Ba Lòng.

Năm 1977, Đảng và Nhà nước ta nhập hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng thành huyện Triệu Hải. Đến năm 1979 lại cắt hai xã Triệu Lương và Triệu Lễ về Thị xã Đông Hà.

Thực hiện Nghị quyết 86/NQ-BCT của Bộ chính trị, ngày 14 tháng 04 năm 1989 và Nghị quyết của kỳ họp thứ V Quốc Hội khoá VIII, tỉnh Quảng Trị được tái lập ngày 01 tháng 07 năm 1989. Ngày 23 tháng 03 năm 1990 theo Chỉ thị số 91 của Hội đồng bộ trưởng ( nay là Chính phủ ), Triệu Hải được tách ra thành 3 đơn vị: Hải Lăng, Thị xã Quảng Trị và Triệu Phong.

Triệu Phong lúc này có 21 xã(1) , 19.520 hộ với 94.884 nhân khẩu. Triệu Phong ngày nay gồm 18 xã, 1 thị trấn với số dân là 109.540 người. Dịên tích tự nhiên khoảng 512 km2.

 


(1) Đến tháng 8/1994 thành lập thị trấn Ái Tử. Tháng 10/1996, cắt 3 xã Triệu Nguyên, Ba Lòng và Hải Phúc về huyện Đakarông.

So với các huyện trong tỉnh, Triệu Phong là một huyện đất rộng, người đông, hình thế núi sông kỳ vĩ. Triệu Phong có dãi tiểu Trường Sa chạy dọc bờ biển từ Cửa Việt đến huyện Hải Lăng dài trên 15 km, rộng khoảng 4 đến 5 km, là phên dậu giúp người dân chống chọi với giặc dã bao đời; có bờ biển dài 30 km, có hải cảng Cửa Việt ghi nhiều chiến công hiển hách, có vùng đồng bằng phì nhiêu rộng 7 - 8 km thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp; có những ngọn đồi thoai thoải, đất bazan để phát triển cây công nghiệp. Phía Tây là núi rừng mênh mông với nghiều lâm hải sản quý và là chiến khu Cánh mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; nơi có con đường lịch sử Hồ Chí Minh băng qua.

Người Triệu Phong được nuôi dưõng từ đất vàng biển bạc và nước nguồn dòng sông Thạch Hãn, Vĩnh Định, Ái Tử và Lai Phước...trong xanh, hiền hoà nên lớp lớp con em Triệu Phong giàu lòng yêu nước, nhân hậu thuỷ chung và chí khí anh hùng khẳng khái; tư chất thông minh sáng tạo đến vậy chăng ?

Nhưng vùng đất Quảng Trị nói chung và  Triệu Phong nói riêng nằm vào khoảng  thắt hẹp của đất nước, rừng và biền chỉ cách nhau vài chục cây số nên trời chưa mưa đã lụt, chưa nắng đã khô. Mưa nguồn bão biển luôn mang đến tai hoạ cho người dân.Để thích nghi và vượt qua khó khăn của vùng đất “Nắng lửa, mưa dầm” này, con người Triệu Phong buộc phải lao động cần cù, bền bỉ, không quản ngại nắng cát, mưa sa; đoàn kết cùng nhau tạo dựng quê hương trù phú, vượt qua đói nghèo và các điều kiện sống khắc nghiệt. Họ tỳ vịnh vào chính mình, vào cộng đồng để đứng dậy, để sống và lao động, sáng tạo.

Từ xưa đến nay, bao thế hệ người Triệu Phong với bản tính cần cù, nhân hậu, thông minh, quả cảm đã chống chọi với thiên nhiên và ách thống trị của các thế lực Phong kiến, Đế quốc để viết nên bao trang sử vàng cho con cháu soi chung. Từ khi có Đảng lãnh đạo, Triệu Phong xuất hiện nhiều nhân tài kiệt xuất, sớm giác ngộ Cánh mạng, đưa phong trào Cánh mạng của nhân dân trong huyện tiến lên, trở thành một trong những cái nôi của Cánh mạng.

Điều rất thú vị là ở Triệu Phong truyền thống hiếu học và truyền thống Cách mạng gắn kết với nhau rất chặt chẻ. Chúng ta không ngần ngại khi nói rằng:Triệu Phong là mảnh đất văn hiến lâu đời, bởi vì từ hàng chục thế kỷ trước, cái tên Triệu Phong đã được nhiều người biết đến như là vùng đất thiêng, sản sinh nhiều nhân tài tế thế có tên tuổi không chỉ ở vùng huyện, tỉnh mà còn lan toả khắp mọi miền đất nước. Chỉ điểm qua sử sách ghi chép và giữ được, chúng ta vô cùng tự hào vào thời kỳ nào Triệu Phong cũng có người tài đức, làm rạng danh đất nước và quê hương.

Vào thời nhà Nguyễn, toàn tỉnh Quảng Trị có 25 vị đại khoa thì Triệu Phong có 11 vị, trong đó có hai vị là Hoàng Giáp ( Đổ đầu tiến sĩ )(1) .

Viết về “Bản tính người Việt” Triệu Bảo trong cuốn “Hà Nội ngày nay” (16 - Bộ mới) đã giới thiệu một người hiền tài của Triệu Phong vào thế kỷ XVIII với tiêu đề: “Người Việt Nam đầu tiên du học Châu Âu”, sách viết:

 


(1) “Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong 1930-1945”, xuất bản năm 1996 có ghi: Lương Văn Quán, người Đạo Đầu, thế kỷ XVI đã khai hoa giải nguyên.

“...Sang Tây du học bấy giờ là chuyện quá bình thường như cơm bữa, không có gì là lạ, nhưng ở thế kỷ trước, đây là chuyện khó mà rất hiếm. Thế mà khi ấy nước ta đã có kẻ lặn lội đi du học rồi, người ấy là một người có can đảm và ý chí, đáng để ta nhắc tới để tưởng niệm một người mở đầu cho việc du học phương Tây. Người đó là ông Nguyễn Văn Dụ, làng Đại Hào, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. ”

Thế kỷ XIX, làng Đại Hào (Xã Triệu Đại - phủ Triệu Phong) có một người hiền tài nữa là Nguyễn Hữu Thận. Năm 1813 ông đã trở thành nhà thiên văn xuất sắc nhất nước ta. Ông còn làm ra lịch “Âm dương hiệp kỷ” (Lịch đương dùng) và ông là một người nước ta trước thời Pháp thuộc có trình độ toán học khá cao. Ta biết vậy qua những áp dụng phép lịch Hiệp kỷ và qua một Toán thư của ông để lại: “Ý trai toán pháp”- (Hoàng Xuân Hãn - Lịch và lịch Việt Nam, tập san khoa học xã hội, số 9 xuất bản vào tháng 2 năm 1982 tại Pari). Sách “Văn Miếu Quốc Tử Giám và 82 bia tiến sĩ”của trung tâm hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám do Ngô Đức Thọ chủ biên ( Hà Nội - 2002) ghi: Khoa tiến sĩ mùa xuâm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ V (1502) do nhà Vua tổ chức, có 5.000 người dự có 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ và 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, trong đó có ông Bùi Dục Tài. Hiện nay còn có  bia lưu danh ông tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ( Lập ngày 10 tháng 11 năm 1502 ). Theo sách “ Ô Châu Cận Lục thì “ Bùi Dục Tài quê ở Cầu Nhi, huyện Hải Lăng thuộc phủ Triệu Phong”.

Từ khi đế quốc Pháp xâm lược nước ta năm 1858, nhân dân cả nước đã đứng lên anh dũng chống xâm lược, dành độc lập tự do. Cánh mạng Tháng Mười Nga nổ ra “Như ánh mặt trời rặng đông xua tan bóng tối, cuộc Cánh mạng Tháng Mười đã chiếu soi ánh sáng mới vào lịch sử loài người” (1) Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên được Cách mạng Tháng Mười thức tỉnh, ra đi tìm đường cứu nước ( 1911) và thấy rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường Cánh mạng vô sản”(2) Tư tưởng ấy của Nguyễn Ái Quốc thông qua sách báo đã được bí mật truyền bá về nước. Ở Triệu Phong vào cuối  thế kỷ XIX, một bộ phận người dân, nhất là thanh niên yêu nước đang theo học chữ Nho, bởi vì Nho học được coi là quốc học, do ảnh hưởng của trào lưu Cánh mạng đã nhanh chóng chuyển sang học chữ Quốc ngữ để tiếp cận với sách báo tuyên truyền Cánh mạng. Tiêu biểu là các đồng chí Lê Duẩn, Trần Hữu Dực, Hồ Ngọc Chiểu, Nguyễn Hữu Khiếu, Đặng Thí, Đoàn Khuê, Trần Quỳnh, Nguyễn Quang Xứ, Lê Chưởng...

Những năm 1930, khi các chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập thì tư tưởng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải làm Cánh mạng vô sản”(2) đã được thế hệ này tiếp nhận. Nhiều thanh niên tham gia “ Nhóm đọc sách báo Cánh mạng” đã chịu ảnh hưởng tư tưởng này. Triệu Phong ngay từ thời kỳ này đã sản sinh cho dân tộc một thế hệ thanh niên yêu nước, ý chí Cách mạng sục sôi và sau này trở thành nhiều nhà lãnh đạo tài ba, đã từng giữ những trọng trách cao trong huyện, tỉnh, xứ uỷ và Trung ương. Đây không chỉ là niềm tự hào của Triệu Phong mà là niềm tự hào của cả dân tộc ( xem phụ lục ở cuối sách ).

 

         

(1)+(2) Hồ Chí Minh toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, hà Nội 2000,Tr9,tr 314

Kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, hiếu học, Cánh mạng của cha anh, ngày nay các thế hệ người Triệu Phong đã tiếp nối nhau làm rạng danh quê hương và đất nước. Truyền thống Cánh mạng và hiếu học ấy đã và đang được Đảng bộ, nhân dân Triệu Phong giữ gìn, nuôi dưỡng và vun đắp, tạo nên bề dày về phẩm chất thông minh, cần cù, nhân hậu, quả cảm của người Triệu  Phong trong giai đoạn mới - Giai đoạn xây dựng quê hương Triệu Phong giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN II

ĐẢNG BỘ HUYỆN TRIỆU PHONG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG

1/ Hội nghị “Bí thư đoàn” Triệu Phong (4/1930) chủ trương mở rộng học chữ Quốc  ngữ cho mọi người.

Giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc đã xây dựng theo tư tưởng chỉ đạo là chỉ phát triển giáo dục theo chiều ngang chứ không theo chiều dọc, nghĩa là tập trung vào mở nhiều trường bậc sơ học gồm 3 lớp đầu bậc Tiểu học với quy mô nhỏ bé (Theo mục “Văn hoá, văn minh Việt Nam - Phạm Minh Hạc - Sách: “Phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại” Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1998)(1).

Thời bấy giờ, 3 % dân số được học và chủ yếu là để tạo ra đội ngũ thầy cai, thầy ký phục vụ cho chính sách xâm lược, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. 97% người dân rơi vào tình trạng thất học. Đó là mục đích của “Chính sách ngu dân” để trị của chúng. Trong tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”, viết từ 1921 đến 1925, Nguyễn Ái Quốc đã dành riêng chương V nói về “Những nhà khai hoá” và chương IX nói về “Chính sách ngu dân”: “làm cho dân ngu để  trị, đó là chính sách  mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.

 

Trong kiến nghị gửi Nghị viện Pháp và các đoàn đại biểu dự Hội nghị Vecsây       ( Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã nêu 8 yêu sách, trong đó yêu sách thứ 6 yêu cầu phải được “Tự do độc lập, thành lập các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ “(2)

 

Năm 1930, trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng Cộng Sản  Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc nêu ra khẩu hiệu : “Thực hành giáo dục toàn dân”. Sự kiện hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản trong nước thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930) tại Hương Cảng ( Trung Quốc ) đánh dấu bước ngoặc cơ bản trong lịch sử Cách mạng Việt Nam. Trong lúc Quảng Trị chưa có tỉnh uỷ thì ở phủ Triệu Phong đã có 11 chi bộ Đảng với trên 30 đảng viên, đòi hỏi phải có một tổ chức cấp uỷ để chỉ đạo thống nhất. Thành lập “Bí thư đoàn” là sáng kiến của những người Cộng sản Triệu Phong lúc bấy giờ ( gồm các đồng chí Bí thư chi bộ ). Hội nghị đã cử đồng chí Trần Hữu Dực làm Bí thư của “Bí thư đoàn” Hội nghị đã quyết định những công việc quan trọng như : Ra sức phát triển nông hội đỏ, thanh niên Cộng sản đoàn, Hội phụ nữ và một số Hộị ái  hữu; tuyên truyền giáo dục rèn luyện Đảng viên, hội viên theo nội dung truyền đơn của Đông Dương Cộng Sản Đảng ; lãnh đạo quần chúng đấu tranh từ thấp tới cao; chống cấp ruộng đất bất công; củng cố phát triển các Chi bộ Cộng sản, mở rộng việc học chữ Quốc ngữ cho mọi người (3)

Cuối tháng 07 năm 1930 phủ uỷ Triệu Phong được thành lập, những nội dung

 


(1) Sách: “35 năm phát triển sự nghiệp GDPT”-NXB GD lại viết: “Phát triển theo chiều nằm chứ không phát triển theo chiều đứng”

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG ,Hà Nội 2000 T1, Tr 435

(3) Theo sách: “Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong 1930-1975” (tr 32)

trên càng được đẩy mạnh và phát triển sâu rộng trong đời sống quần chúng nhân dân.

Có thể khẳng định rằng: Trong thời kỳ trứng nước, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nguy hiểm, những người Cộng sản đầu tiên của Triệu Phong không những chỉ quan tâm đến những vấn đề sống còn của Đảng, của dân tộc mà còn lưu tâm đến vấn đề dân sinh - đó là vấn đề chống “chính sách ngu dân” của thực dân Pháp. Việc phát triển  các lớp học chữ  Quốc ngữ được mở ra ở các làng, xã, thôn xóm do những người Cộng sản lãnh đạo và tầng lớp thanh niên yêu nước tham gia rộng rãi, thu hút mọi tầng lớp nhân dân, đã đáp ứng yêu cầu của quần chúng và Cách mạng lúc bấy gìơ. Chính phong trào “Học chữ Quốc ngữ là yêu nước” đã tạo ra một lớp người có lòng yêu nước, có tri thức để phục vụ Đảng, phục vụ sự nghiệp Cách mạng trước mắt và lâu dài.

 

 

2/ Trong phong trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939), Đảng bộ Triệu Phong thực hiện chủ trương của tỉnh uỷ Quảng Trị một cách triệt để, những chủ trương đó là đấu tranh chống thuế và đòi các quyền lợi khác như: đòi bỏ thuế thân, giảm thuế điền thổ, bỏ thuế chợ, thuế ghe đò, đòi được tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do đi lại, tự do nghiệp đoàn, đoì lập thêm trường học, nhà thương...

Việc Đảng bộ Triệu phong đưa khẩu hiệu đòi lập thêm trường học, nhà thương vào nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ lúc bấy giờ càng làm cho các tầng lớp nhân dân tin tưởng vào chủ trương chính sách của Đảng, tập hợp được lực lượng rộng rãi quần chúng  ủng hộ Cách mạng, đi theo Đảng để chống lại các âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, đẩy mạnh phong trào dân chủ ở địa phương lên một tầm cao mới.

Đảng bộ Triệu Phong đã lãnh đạo thành lập “Hội truyền bá Quốc ngữ” nhờ vậy các lớp học chữ Quốc ngữ được củng cố lại, nhiều nơi còn tổ chức thêm lớp học ban đêm để dạy cho người lớn tuổi và chị em phụ nữ. Hội truyền bá Quốc ngữ đã hoạt động rất mạnh và đều khắp. Đặc biệt, nhiều trường tư đã được thành lập vào thời gian này ở các vùng chợ Sải, Cổ Thành, An Tiêm, Gia Đẳng, Vạn Chài, Tân Định, Ba Bến, Chợ Cạn, chợ Hôm... những lớp ban đêm dạy cho người lớn tuổi học đã tạo điều kiện cho hàng ngàn học sinh và người lớn có chỗ học và là nơi các nhà hoạt động Cách mạng có dịp để truyền bá Cách mạng trong dân chúng. Phong trào này tiếp tục được duy trì  suốt thời kỳ 1939-1945 -  thời kỳ Đảng bộ Triệu Phong chủ yếu lãnh đạo toàn dân thực hiện cuộc vận động giải phóng dân tộc.

 

 

3/ Tình hình giáo dục Triệu Phong từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hoà bình lập lại (1954) và những chủ trương sáng tạo của Đảng bộ Triệu Phong về giáo dục .

Thành quả lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám ở Triệu Phong là đã góp phần cùng cả nước và trong tỉnh lật đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền phong kiến, thực dân; thành lập chính quyền Cách mạng từ huyện đến cơ sở. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi tin tưởng ở đường lối của Đảng, yên tâm xây dựng cuộc sống mới. Tuy nhiên, Triệu Phong có những khó khăn lớn đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân phải có những nổ lực vượt bậc mới có thể vượt qua được, trong đó có giáo dục.

“Nạn đói 1944 kéo dài ảnh hưởng nặng nề đến đời sống nhân dân Triệu Phong, tuy không trực tiếp bị chết đói như một số vùng khác nhưng 50 % hộ dân Triệu Phong cũng trong tình trạng thiếu ăn và mất bữa. Đặc biệt vẫn còn 90% người dân mù chữ ”(1). Trước tình hình ấy, Đảng bộ chủ trương tập trung đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm, phát động “Tuần lễ vàng” vận động nhân dân đóng góp tiền của cho Cách mạng. Mặt khác, Đảng bộ đã tập trung giải quyết nạn mù chữ cho tầng lớp nhân dân.

Ngày 03/09/1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, Hồ Chủ Tịch đã đưa ra đề nghị : “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”(2). Đề nghị đó của Hồ Chủ Tịch trở thành quyết định của Hội đồng chính phủ và ba sắc lệnh quan trọng được ban hành. Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ (8/9/1945); sắc lệnh số 19/SL hạn định trong 6 tháng các  làng xã, thôn bản phải tổ chức học chữ Quốc ngữ; sắc lệnh 20/ SL xây dựng nền giáo dục Cách mạng.Tháng 9/1945, Huyện uỷ Triệu Phong đã phát động phong trào bình dân học vụ rộng khắp cho người lớn và mở nhiều lớp tận các vùng quê cho trẻ em học . Phong trào học chữ Quốc ngữ được quần chúng nhân dân hưởng ứng sôi nổi, chữ được viết khắp nơi ở đình làng, ngỏ chợ, bến sông, chữ viết trên vách nhà, trên công cụ lao động. Các lớp bình dân học vụ được tổ chức linh hoạt theo cụm gia đình ở các thôn bản.Trình độ người dạy cao hơn người học không được bao nhiêu nhưng với nhiệt tình Cách mạng vừa dạy vừa học, học lớp trên xuống dạy lớp dưới theo tinh thần người biết một chữ dạy người chưa biết chữ nào. Nhiều “Chiến sĩ diệt dốt”(3) có sáng kiến lập cổng chào qua làng, làm cổng chợ, dựng cổng bến đò viết sẳn chữ liên quan bắt buộc mọi người phải đọc được mới cho qua. Phong trào học chữ trở thành phong trào Cách mạng, tạo ra một khí thế rộn ràng, tươi sáng, làm át đi những khó khăn thiếu thốn trong đời sống của người dân, tạo ra niềm tin vào chế độ mới, giữ vững chính quỳên Cách mạng. Theo lời kể của cụ Nguyễn Luật ( 86 tuổi )- lão thành Cách mạng, nguyên là Bí thư Đảng uỷ xã Triệu Thượng cho biết: “Việc học chữ lúc này rất hào hứng, nam nữ thanh niên tham gia học say sưa. Họ viết trên lá chuối, trên nền đất. Đi đâu, ở đâu, từ già đến trẻ đều nói đến chuyện học”.

Tháng 09/1945, nhân dịp khai giảng năm học mới - năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chủ Tịch đã gửi thư cho học sinh cả nước: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẽ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu”(4) .Thư của Hồ Chủ Tích đã làm thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của thế hệ trẻ và giáo giới, thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của nhân dân ta, mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, khẳng định niềm tin các thế hệ cha anh đối với nòi giống con cháu Lạc Hồng.

Đến đầu tháng 09/1949, đại bộ phận nhân dân Triệu Phong đã biết chữ, có 5 thôn

 

(1)    Hồ Chủ Tịch bàn về giáo dục. NXB GD

(2)    Danh hiệu Hồ Chủ Tịch tặng cho những người làm công tác BDHV

(3)    + (4) Hồ Chí Minh toàn tập

đã thanh toán nạn mù chữ. Tháng 8/1949, huyện đã tổ chức Hội nghị tổng kết thi đua về BDHV. Xã Phong Thanh được biểu dương vì có thành tích xuất sắc, đứng thứ 2 trong phong trào BDHV toàn quốc.

Đến năm 1950, phong trào BDHV ổn định, huyện mở trường BTVH cho cán bộ, bộ đội và nhân dân trong huyện. Huyện cũng chỉ đạo mở trường cấp 2 ở Triệu Cơ         ( Triệu Sơn ). Nhờ vậy, một số cán bộ đã được học BTVH, nâng cao trình độ, tiếp tục phục vụ Cách mạng trong giai đoạn mới.

Một sự kiện nổi bật ở thời kỳ này là cuộc cải cách giáo dục  lần thứ nhất (1950) với hệ thống giáo dục 9 năm theo chương trình giảng dạy mới. Tính chất nền giáo dục mới là của dân, do dân và vì dân được xây dựng trên nguyên tắc dân tộc-khoa học-đại chúng. Sự kiện này tác động tích cực, mạnh mẽ vào tình hình giáo dục của huyện. Từ năm 1952, giáo dục tỉnh Quảng Trị ở vùng tự do phát triển các cấp học có hệ thống và tổ chức chặt chẽ. Ty giáo dục quảng Trị hình thành trên cơ sở sát nhập Ty BDHV và Ty Tiểu học Quảng Trị, đóng tại Ba Lòng, thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm do ông Trần Duy Mân làm trưởng Ty. Huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong có một người phụ trách giáo dục chung gọi tắt là Thanh tra giáo dục, đó là ông Nguyễn Hữu Sắt, sau ông tập kết ra Bắc, làm hiệu trưởng trường cấp 1 Hồ xá- Vĩnh Linh (1). Trên thực tế, mối quan hệ giữa giáo dục tỉnh và huyện còn hạn chế do điều kiện đi lại  khó khăn. Chỉ một số ít con em từ huyện Triệu Phong lên vùng chiến khu Phong An, Ba lòng, Cùa...để học Tiểu học và học ở trường cấp 2 Lê Thế Hiếu (2).

Đa số học sinh bỏ học do tránh bom đạn của giặc hoặc vào vùng tề của Nguỵ quyền để học, nhưng kết quả rất thấp, thậm chí có ảnh hưởng xấu.

Trong điều kiện kháng chiến khó khăn mọi mặt, giáo dục Triệu Phong lúc bấy giờ chỉ mới làm được việc xây dựng phong trào học tập tại chỗ, chưa có hệ thống lâu dài. Huyện  uỷ Triệu Phong thấy rằng: Phải xây dựng một kí túc xá ở vùng tự do không có giặc cho con em trong huyện có nơi học tập yên bình, đồng thời để đào tạo cán bộ cho kháng chiến lâu dài, cho sự nghiệp kiến quốc khi kháng chiến thắng lợi. Giữa năm 1948, huyện uỷ Triệu Phong, sau khi được huyện Đức Thọ(Hà Tĩnh) đồng ý về địa điểm, đã quyết định thành lập Trại Sinh Quảng Trị tại Đức Thọ (Theo lời kể của Đồng chí Nguyễn Quang Xá, lúc này là Bí thư phủ uỷ Triệu Phong). Sáng kiến này của huyện uỷ Triệu Phong xuất phát từ một tầm nhìn xa của tỉnh uỷ Quảng Trị. Trong cuốn hồi kí của đồng chí Đặng Thí(3) có nêu: Cuối tháng 7/1947 liên khu triệu tập các anh Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Anh, Đặng Thí (lúc này là Bí thư tỉnh uỷ Quảng Trị) ra họp tại Cát Vận (Thanh Chương - Nghệ An) bàn về vấn đề xây dựng Thanh - Nghệ -Tĩnh với tiền tuyến Bình - Trị - Thiên.

Cũng trong Hội nghị này, các đồng chí lãnh đạo Quảng Trị đã đề nghị hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh giúp đỡ Bình-Trị-Thiên một số việc như: Giúp cho việc học tập

 
 
 


(1)Hiện ông Nguyễn Hữu Sắt đã 82 tuổi về hưu tại Hà Nội .

(2)Hiện còn ông Phan Cư Nhân-là giáo viên của trường về hưu tại Hà Nội.

(3)Theo lời kể của đồng chí Trần Văn Nga(Noãn) trong bài: “Anh Đặng Thí-người có tầm nhìn xa” Sách “Nhớ mãi Trại Thiếu Sinh Quảng Trị tại Đức Thọ-Hà Tĩnh” 1949-1955, NXB Văn hoá- thông tin 2005 do Nguyễn Đức Khiểm chủ biên.

của con em Bình Trị Thiên, giúp đỡ về cơ sở vật chất, nơi ăn chốn nghỉ cho học sinh...

Đầu năm 1949, việc xây dựng trại hoàn thành, ngày 19/05/1949 trại chính thức được thành lập, mang tên là ký túc xá Quảng Sinh. Con em các xã trong huyện Triệu Phong lần lượt vượt Trường Sơn, vượt biển ra Đức Thọ để nhập trại. Đến cuối thu 1949 thì được chuyển thành trại học sinh của tỉnh Quảng Trị.

Trại tổ chức bán quân sự hoá, có bộ máy quản trị và sản xuất kinh doanh gọn nhẹ; trại sinh ăn ở nội trú, gửi vào học  ở các trường địa phương nơi trường đóng. Trên 200 học sinh được học tập ở đây, được giáo dục đào tạo tốt; sau này được học lên ở các trường miền Bắc, nước ngoài và trưởng thành. Nhiều người thành tài và phục vụ cho quê hương đất nước. (Xem phụ lục cuối sách).

Tháng 04/1954, Trung ương Đảng có Nghị quyết TW6 (Khóa II) xác định nhiệm vụ trọng tâm về tổ chức lực lượng để lãnh đạo Cách mạng miền Nam , đưa cán bộ, bộ đội và học sinh ra miền Bắc. Cuối năm 1954, Hiệp định đình chiến được thực hiện. Nhận thức một cách đầy đủ âm mưu chia cắt lâu dài của Mỹ - Diệm, thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Trị, huyện uỷ Triệu Phong đã tích cực đôn đốc các địa phương trong huyện cho con em ra Bắc học để đào tạo cán bộ về phục vụ quê hương, Cách mạng lâu dài. Vĩnh Linh là huyện duy nhất của Quảng Trị thuộc miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Hàng trăm con em Quảng Trị, trong đó có nhiều con em Triệu Phong được đưa thẳng ra Vĩnh Linh học tập, rèn luyện. Ký túc xá dành cho con em miền Nam được thành lập tại thị trấn Hồ Xá và nhiều học sinh được đưa về học ở các xã thuộc huyện Vĩnh Linh. Trường cấp III Vĩnh Linh là nơi hội tụ của hầu hết các học sinh miền Nam thuộc khu vực Quảng Trị sau khi học ở các trường cấp II trong huyện.

Học sinh miền Nam, Triệu Phong Quảng Trị được chăm sóc chu đáo, vừa học tập vừa phục vụ đấu tranh thống nhất nước nhà ở vùng giới tuyến Vĩnh Linh. Rất nhiều học sinh Triệu Phong học xong ở Vĩnh Linh, vào Đại học, đi học nước ngoài, vào bộ đội...rồi trở về quê hương  phục vụ, chiến đấu. Nhiều người đã anh dũng hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại quê nhà. Nhiều người trở thành cán bộ chủ chốt, cán bộ chuyên môn, khoa học-kĩ thuật giỏi của huyện, tỉnh và Trung ương( Xem phụ lục  cuối sách)

 

4/ Vài nét về giáo dục Triệu Phong thời Mỹ - Ngụy (1955-1971).

Từ năm 1955, Quảng Trị bị chia cắt. Vĩnh Linh thuộc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Triệu Phong và các huyện khác của tỉnh ở nam sông Bến Hải thuộc quyền quản lý của ngụy quyền miền Nam Việt Nam. Nhằm tiêu diệt phong trào Cách mạng, Mỹ - Diệm mở các chiến dịch: “Chiêu hồi”, “Tố cộng”, “Diệt cộng”. Nhân dân bị sống o ép khổ nhục, không được đi lại tự do, không được tụ tập đông người; ban đêm không được đi lại ngoài đường. Triệu Phong là cái nôi của Cách mạng nên càng bị Mỹ Diệm kêm kẹp, đàn áp khốc liệt và hết sức dã man.

Cuộc sống tự do, vui tươi trong những ngày kháng chiến không còn nữa, thay vào đó  là cuộc sống đen tối ảm đạm. Sau khi dùng vũ lực để uy hiếp phong trào Cách mạng của quần chúng, Mỹ nguỵ chuyển sang chiến lược mị dân, cố tạo ra một “đời sống tự do” giả hiệu kiểu Mỹ và xây dựng khu trù mật. Ở vùng Mỹ-Ngụy kiểm soát, chính quyền tay sai cho mở một số trường Tiểu học cộng đồng, trường ấp dân sinh và các lớp sơ học ở làng, xóm. Một số học sinh con em nhà khá giả muốn được học cao hơn phải lên thị xã học tiếp.

Sau những năm 1960 trở đi, mỗi xã có một trường Tiểu học, huyện có từ 1 đến 2 trường trung học đệ nhất cấp ( tương đương cấp 2). Toàn huyện Triệu Phong có 52 trường Tiểu học. Các trường do Mỹ - ngụy quản lý học theo chương trình hệ 12 năm   ( Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5; Trung học đệ nhất cấp từ lớp 6 đến lớp 9, Trung học  đệ nhị cấp từ lớp 10 đến lớp 12.)

Giáo dục Mỹ - ngụy tuy có phát triển về số lượng và có những cải cách nhất định nhưng không thoát khỏi mục đích nô dịch, thống trị. Vì vậy, con em đến trường, đến lớp là để đáp ứng nguyện vọng thiết tha với lớp học nhưng không bao giờ quên truyền thống yêu nước , thương nhà. Cùng với phong trào học sinh, sinh viên, giáo viên toàn miền Nam dũng cảm đấu tranh chống giáo dục nô dịch, thống trị; ủng hộ hoà bình, dân chủ, đời sống dân sinh. Khi huyện được giải phóng, nhiều học sinh, giáo viên tiếp học học tập, giảng dạy trong các trường do Cách mạng quản lý và họ đã đóng góp nhiều công sức cho sự nghiệp giáo dục quê hương cũng như kiến thiết quốc gia trong giai đoạn mới.

 

5/ Đảng bộ Triệu Phong đã lãnh đạo xây dựng, phát triển giáo dục từ năm 1972-1975.

Cuối năm 1971 đầu 1972, Quảng Trị là chiến trường đặc biệt. Tỉnh uỷ Quảng Trị chỉ thị cho các địa phương thực hiện quyết tâm của Trung ương là giải phóng Quảng Trị vào mùa xuân 1972 theo phương châm: tấn công - nổi dậy, nổi dậy- tấn công. Huyện Triệu Phong được chỉ đạo là kết hợp tấn công và nổi dậy để giải phóng quê hương. Ngày 29/04/1972 một bộ phận bộ đội địa phương huyện vào chiếm quận lỵ Triệu Phong. Triệu Phong hoàn toàn giải phóng vào ngày 01/5/1972. Đầu tháng           6 /1972, tỉnh uỷ họp và nhận định: “ Thất bại của địch ở Quảng Trị là một thất bại có ý nghĩa chiến lược. Do đó, chúng rất cay cú , sẽ tìm mọi thủ đoạn phản kích nhắm phá hoại mọi thành quả của ta, thậm chí đánh chiếm lại Quảng Trị”(1). Đúng như dự kiến, từ ngày 14/06/1972 địch bắt đầu mở những đợt phản kích hồng tái chiếm thị xã Quảng Trị. Nhân dân Triệu Phong lại tiếp tục hứng chịu những cơn bão lửa của chiến tranh.

Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, hàng chục vạn dân Triệu Phong thực hiện chủ trương sơ tán ra Vĩnh Linh, Quảng Bình, đã đội bom đạn, làm một cuộc sơ tán chiến lược lớn nhất, nhanh chóng nhất trong lịch sử để bảo vệ dân, tạo địa bàn cho cuộc đọ sức lịch sử giữa ta và địch trong cuộc chiến mất còn tại Thành cổ Quảng Trị .

Tin tưởng tuyệt đối ở chiến thắng, Huyện uỷ Triệu Phong tạm thời chuyển ra hoạt động ở Vĩnh Linh (xã Vĩnh Nam) để bám dân, kịp thời hỗ trợ  cho tiền phương. Trong điều kiện nóng bỏng đó, lãnh đạo Triệu Phong đã nghĩ đến việc xây dựng và phát triển ngành giáo dục cho huyện nhà, đề nghị UBND tỉnh cho cán bộ về giúp huyện chỉ  đạo công tác giáo dục, khi có thời cơ là triển khai ngay.

Tháng 11/1972, UBND Cách mạng tỉnh Quảng Trị cử đồng chí Nguyễn Văn Truyền- giáo viên cấp 3 đi B, công tác tại trường Đảng khu uỷ Trị Thiên Huế, tăng

 
 
 


(1) Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong từ năm 1945-1975.

cường cho tỉnh về công tác giáo dục tại Triệu Phong. Nhận định rằng: Từ đầu mùa xuân 1973 vùng giải phóng Triệu Phong sẽ được được mở rộng và tiến tới giải phóng toàn huyện, giáo dục sẽ là mặt trận quan trọng để ổn định dân về tiếp quản. Tháng 12/1972 tại địa điểm sơ tán, huyện uỷ Triệu Phong lúc ấy do đồng chí Vĩnh Quang làm Bí thư đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là:

1. Phối hợp với các địa phương nơi có dân trong huyện sơ tán (Vĩnh Linh và Quảng Bình) để tổ chức cho dân học văn hoá, nhất là các em nhỏ.

2. Tập hợp một số thanh niên có trình độ văn hoá ở Triệu Phong sơ tán ra Bắc tập huấn, đào tạo để đưa trở lại phía trước dạy học cho anh chị em đang chiến đấu, giữ chốt và chuẩn bị điều kiện để mở trường lớp ở những vùng mới được giải phóng.

3. Sau khi địa bàn giải phóng được mở rộng, để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân , mặt khác để góp phần ổn định đời sống của dân, cần phải mở nhiều trường học cho con em và mở nhiều lớp học để xoá mù chữ cho quần chúng nhân dân . Trong lúc chờ đợi sự chi viện của các tỉnh miền Bắc về giáo viên và các điều kiện phát triển giáo dục, huyện phải chủ động mở trường sư pham Tiểu học đào tạo cấp tốc giáo viên. Rà soát lại đội ngũ giáo viên của ngụy quyền tốt, là con em cơ sở Cách mạng để sử dụng. Huyện cũng sớm mở trường BTVH tập trung để xoá mù chữ và BTVH cho cán bộ chủ chốt xã, thôn chưa có trình độ văn hoá, các anh chị du kích do sức khoẻ yếu được đưa về tuyến sau.

Thực hiện chủ trương đó của huyện uỷ, tháng 12/1972 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình   và xã Vĩnh Hiền, Vĩnh Linh; với sự giúp đỡ của  Ty giáo dục Vĩnh Linh và Ty giáo dục Quảng Bình, hai lớp sư phạm cấp tốc của huyện Triệu Phong đã được mở. Lớp ở Quảng Bình gồm 25 học viên do các đồng chí trong K10 của huyện giúp đỡ kinh phí và quản lý học tập. Lớp ở Vĩnh Linh có 30 học viên do đồng chí Nguyễn Văn Truyền phụ trách, sau đó bàn giao lại cho đồng chí Hoàng Văn Minh, giaó viên cấp 3 đi B quản lý. Các lớp được trang bị kiến thức và kĩ năng về quan điểm đường lối giáo dục Cách mạng, phương pháp và biện pháp giáo dục vùng giải phóng. Cả hai lớp sau khi mãn khoá, các học viên được trở lại quê hương, góp phần xây dựng vùng giải phóng.

Tháng 02/1973, huyện phân công đồng chí nguyễn Văn Truyền và 2 đồng chí vừa mới được bổ  sung để làm giáo dục, là đồng chí Nguyễn Khắc Chinh và Trương Hồng Tân cùng đoàn của huyện uỷ trở về lại Triệu Phong, giai đoạn này huyện uỷ đã chỉ đạo mở trường sư phạm tiểu học; mở trường BTVH cho cán bộ cơ sở; lập Phòng giáo dục; đón nhận giáo viên miền Bắc chi viện vào; phát triển giáo dục ở vùng mới chuyển dân trở về. Tháng 03/1973, Ty giáo dục Quảng Trị được kiện toàn, đồng chí Lê Trọng Từ vụ phó thiết bị trưòng học được Bộ điều vào giử chức trưởng Ty.

Năm học 1973 - 1974 được diễn ra trong bối cảnh khá đặc biệt, 5 xã của huyện Triệu Phong, thị xã Quảng Trị đang thuộc quyền kiểm soát của chính  quyền miền Nam. Vì vậy, tiếng trống ngày khai trường của các xã giáp ranh như Triệu Thượng, Triệu Độ, Triệu Vân, Triệu Phước, Triệu Ái là tiếng trống trận thúc giục quân và dân cả huyện bước vào giai đoạn quyết liệt của cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi hoàn toàn.(tháng 4/1975).

 

 

PHẦN III

GIÁO DỤC TRIỆU PHONG

 

34 NĂM PHÁT TRIỂN - HOẠT ĐỘNG VÀ 30 NĂM CHÍNH THỨC THÀNH LẬP

 

PHÒNG GIÁO DỤC TRIỆU PHONG

 

1/ Giáo dục Triệu Phong, những tháng năm đầu tiên (1972-1975).

Khởi nguồn, giáo dục Triệu Phong có từ sau năm 1930, được nuôi dưỡng trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Triệu Phong và ấp ủ trong lòng nhân dân. Nhưng cho đến mùa xuân 1973 mới chính thức có Phòng Giáo dục Triệu Phong theo quyết định của UBND Cách mạng huyện Triệu Phong (cùng với quyết định thành lập phòng y tế, tài chính, lương thực của huyện).

Trước đó 2 tháng, ngày 10/11/1972, UBND Cách mạng tỉnh Quảng Trị có quyết định số 106/QĐ điều động đồng chí Nguyễn Văn Truyền - giáo viên cấp 3 về làm cán bộ giáo dục huyện Triệu Phong.

Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Truyền: “Cuối năm 1972, tôi từ khu uỷ Trị - Thiên - Huế được điều động về công tác tại tỉnh Quảng Trị. Trong mưa bom, bão  đạn tôi được giao liên dẫn đến trụ sở làm việc của Ty giáo dục tỉnh Quảng Trị. Đó là một căn hầm vừa là nhà hầm vừa là địa đạo trên đất Cam Thanh, do đồng chí Nguyễn Hữu Quang phụ trách. Sau một tuần nằm hầm, ăn gạo sấy vì địch pháo kích dữ dội, tôi được đưa về một căn cứ của huyện uỷ Triệu Phong đóng trên đất Vĩnh Nam, Vĩnh Linh. Đồng chí Vĩnh Quang - Bí thư huyện uỷ tiếp tôi, giao cho tôi một tờ giấy pơ luya và nói: “Chúng tôi chờ anh mãi, quyết định của anh đã đến cách đây hơn một tuần rồi. Đó chính là Quyết định số 106 mà tôi giữ đến bây giờ. Sáng hôm sau, tôi đã lại ba lô con cóc, súng, túi gạo, bi đông nai nịt theo giao liên ra Quảng Bình mở lớp cấp tốc đào tạo cán bộ về làm giáo dục xã. Sau đó lại về Ty giáo dục Vĩnh Linh xin người, đề nghị giúp đỡ để mở lớp sư phạm cấp tốc. Vì bận lo giáo dục cả huyện nên tôi bàn giao cho đồng chí Hoàng Minh, giáo viên cấp 3 đi B năm 1972 giúp huyện chăm lo việc đào tạo lớp sư phạm này. Sau này đồng chí Minh về làm Hiệu trưởng trường cấp 3 Hải Lăng.

Mùa xuân năm 1973 cùng với chiến thắng vang dội ở Nam Cửa Việt, địa bàn giải phóng của Triệu Phong mở rộng. Một số xã hoàn toàn được giải phóng; phía Bắc sông Thạch Hãn có xã Triệu Thượng, Triệu Ái, Triệu Lương, Triệu Lễ, Triệu Giang; Phía Nam sông Thạch Hãn có xã Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Đại và xuôi về biển là Triệu Phứơc. Còn nhiều xã nằm trong tình trạng cài răng lược: Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Long, Triệu Hoà,...một số xã chưa có vùng giải phóng, dân từ nơi sơ tán Quảng Bình, Vĩnh Linh trở về phải ở nhờ đất các xã đã giải phóng như xã Triệu Lăng, Triệu Trung, Triệu Đông, Triệu Tài, Triệu Sơn.

Huyện ủy đóng ở xã Triệu Độ, UBND huyện đóng ở xã Triệu Đại. Phòng GD chọn vị trí ở giữa Huyện uỷ và Uỷ ban là thôn Dương Lệ Văn xã Triệu Thuận. Đây là nơi thuận lợi hơn cả vì gần sông Thạch Hãn, có đường liên xã, có ngôi trường Tiểu học cộng đồng bị bom đạn làm tan nát mái nhưng trường vẫn còn dùng được.Trụ sở Phòng giáo dục là một ngôi nhà dân chỉ còn tường gạch. Nhờ sự giúp đỡ của du kích xã Triệu Thuận, mái đã được lợp bằng giấy dầu. Bàn ghế là các tấm ri (gi) và ván ép lấy từ sân bay Ái Tử. Chỉ một tuần sau, với việc tìm kiếm tích cực của 3 anh em trong phòng (đồng chí Truyền, đ/c Chinh, đ/c Tân), địa điểm để mở trường sư phạm Tiểu học của huyện triệu Phong đã được quyết định. Đó là ngôi nhà hai tầng của một ngụy quyền Sài gòn ở xã Triệu Lương đã bỏ chạy, tuy bị hư hỏng nhiều nhưng sửa chữa cũng dùng được. 36 anh chị em tuổi đời còn rất trẻ, có người chỉ 16 tuổi, vốn là các đồng chi du kích đang giữ chốt ở tuyến trước, là con em cơ sở Cách mạng được huyện uỷ, UBND Cách mạng huyện triệu tập để làm giáo viên.

“Hoàng Thị Thao, dũng sĩ diệt nguỵ, dũng sĩ diệt xe cơ giới trên mặt trận Cửa Việt, đang giữ chốt trên tuyến giáp ranh Triệu Phong thì được lệnh trở về tuyến sau. “Đi học sư phạm”, giấy gọi đã cầm chắc trong tay mà Thao còn nửa tin nửa ngờ. Mồ côi cha từ thuở chưa lọt lòng mẹ, tuổi thơ ấu sống quằn quại trong vùng địch kiểm soát,Thao chỉ học hết lớp 4. 36 anh chị em ở trường sư phạm Tiểu học Triệu Phong hầu hết đều cùng cảnh ngộ với Thao, vì nghèo khổ, vì bị địch o ép mà học hành dỡ dang, phải ở nhà lo chuyện làm ăn rồi vào du kích, trở thành dũng sĩ. Ngày 03/04/1973, nhận quyết định trở về quê hương Triệu Vân dạy học, thao mừng lắm. Cô nói với thầy Truyền - trưởng phòng giáo dục Triệu Phong: “Xã em ở gần tuyến giáp ranh. Vậy bây giờ em về mở lớp, góp phần xây dựng vùng giải phóng vững mạnh , là bước vào một cuộc chiến đấu mới, cũng coi như em được lên tuyến đầu giữ chốt, có phải không thầy ?”(1).

Chỉ sau 45 ngày học tập, 36 giáo sinh trở về các xã xây dựng phong trào giáo dục, chuẩn bị mở trường khi có giáo viên chi viện. Nhiều lớp Tiểu học được mở ra, có nhiều lớp được mở ngay sát chốt như Triệu Trạch, Triệu Vân, theo giới thiệu của các xã, phòng giáo dục mới được 3 giáo viên cũ trở lại giảng dạy, đó là thầy Võ Trí - giáo viên trường  làng xã Triệu Lăng; thầy Nguyễn Văn Thược - trưởng giáo ấp Tân Sinh xã Triệu Trung và cô Nguyễn Thị Ái - xã Triệu Lễ. Phòng giáo dục nhờ Ty giáo dục Vĩnh Linh giúp đỡ, cử đồng chí Nguyễn Viết Trinh- hiệu trưởng cấp 1+2 lâu năm về làm giáo vụ Trường sư phạm Tiểu học của huyện và sau này làm hiệu trưởng trường cấp 2 đầu tiên ở vùng giải phóng Triệu Phong nói riêng, Quảng Trị và miền Nam nói chung- trường cấp 2 Triệu Lương.

 Cùng với việc mở trường sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học cấp tốc, Phòng giáo dục mở ngay trường BTVH huyện. Trường đóng ngay sát Phòng để được sự chỉ đạo và hổ trợ trực tiếp của Phòng Giáo dục.Gọi là trường, thực ra đó là 3 ngôi nhà dân còn tạm sử dụng được, sau khi anh chị em học viên đến, được huyện giúp đỡ vài chuyến xe kéo, lên rừng chặt gỗ, tre, cắt tranh về lợp lại để làm ký túc xá và sửa chữa hai dãy lớp học của trường Tiểu học cộng đồng thôn Dương Lệ Văn để làm lớp học. Trường do đồng chí Nguyễn Thị Thạc, đảng viên, giáo viên tỉnh Thái Bình đi B năm 1973 làm hiệu trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Truyền, trưởng phòng giáo dục huyện làm hiệu truởng danh dự. Trường có 120 anh chị em, đa phần là các đồng chí Bí thư, Chủ tịch xã, cán bộ chủ chốt các ngành của các địa phương đang công tác, thay phiên nhau về tham dự lớp học. Trường mở 4 lớp, từ lớp 1đến lớp 4.

 


(1) Bài báo : “Trường học của miềng, tháng 4/1973-Tác giả Lê Khắc Hoan-Báo Người giáo viên nhân dân số 375, ngày 10/5/1973

 

Do đội ngũ giáo viên của trường có hạn chế về trình độ và phương pháp-kĩ năng dạy học cho đối tượng đặc biệt trên nên toàn bộ cán bộ Phòng giáo dục của huyện (lúc này có 19 người) đều có trách nhiệm giúp đỡ kèm cặp để học viên học được, học tốt, sớm ra trường làm việc kịp thời với tình hình vùng mới giải phóng.

Hơn bao giờ hết, ngành giáo dục huyện được đảm nhận một sứ mạng lịch sử cao cả, có ý nghĩa mang tầm chiến lược trong sự nghiệp trồng người. Chúng ta dạy là dạy cho cả một thế hệ trực tiếp vừa học, vừa vệ quốc và tái kiến thiết quê hương từ trong đỗ nát. Những lớp bình dân học vụ, BTVH, giáo dục mầm non và phổ thông được mở ra. Hàng loạt vấn đề như xây dựng trường lớp, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-giáo viên cấp tốc,  tuyên truyền mở mang dân trí, dân sinh; lo cái ăn, chuyện ở được diễn ra khẩn trương, ráo riết và thấm đẫm chất anh hùng ca Cách mạng. Một thế hệ cán bộ cơ quan dày dặn kinh nghiệm và giàu đức hy sinh  đã không biết mệt mỏi trực tiếp về ăn, ở với dân, bám chắc cơ sở để chỉ đạo phong trào; giáo viên thường trực với lớp, với trường, tận tuỵ với công việc, tất cả vì học sinh thân yêu của mình. Mọi chuyện họ tự lực cánh sinh làm lấy, những trang giáo trình, giáo án không có tài liệu  tham khảo nào ngoài cái tâm, cái lực của người thầy, người cô. Chính họ đã thổi bùng lên ngọn lửa tri thức làm ấm lòng con trẻ, góp phần tái kiến thiết quê hương.

Đến năm 1975, huyện được hoàn toàn giải phóng, Phòng giáo dục và trường BTVH huyện được chuyển về thị xã Quảng Trị, đóng tại khu vực trước đây là trụ sở của Uỷ ban liên hợp bốn bên (Tổ chức quốc tế giám sát việc lập lại hoà bình). Ngày 19/04/1975, thường vụ huyện uỷ Triệu Phong có quyết định số 63/QĐ điều động đồng chí Nguyễn Văn Truyền, trưởng phòng giáo dục về làm Trưởng ban tuyên huấn; UBND huyện cử đồng chí Nguyễn Như Thịnh, giáo viên Quảng Bình đi B, người thôn Vân Hoà, Triệu Hoà làm Phó phòng giáo dục huyện, phụ trách tổ chức và Công Đoàn. Đồng chí Nguyễn Khắc Chinh phụ trách công tác BTVH. Đồng chí Nguyễn Văn Thuận phụ trách phổ thông. Lúc này đã có đội ngũ giáo viên chi viện từ các tỉnh miền Bắc và một số giáo viên trước đây dạy học dưới chế độ Sài Gòn được sử dụng lại, được ăn lương “lưu dung” một thời gian.

Phong trào BTVH đã phát triển sâu rộng khắp các xã. Nhiều xã đã có lớp “vừa học vừa làm” tập trung, như lớp của du kích, thanh niên xã Triệu Hoà. Phong trào phổ thông lên rất mạnh ở các xã đã được giải phóng hoàn toàn và cả các xã còn đóng nơi sơ tán. 18/18 xã có trường Tiểu học, 7 xã có trường cấp 2 là Triệu Lương, Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Phước, Triệu Thuận, Triệu Độ, Triệu Hoà. Cho đến ngày giải phóng hoàn toàn, cả 18 xã trong huyện mới có đầy đủ trường Tiểu học và trường cấp 2. Phòng giáo dục huyện nhờ sự giúp đỡ của Ty giáo dục Hà Nội mở một lớp mẫu giáo ở Triệu Đại, từ đó, nhiều xã bắt đầu có trường Mẫu giáo, Nhà trẻ.

Sự nghiệp giáo dục Triệu Phong đã có những biến chuyển tích cực, không chỉ tăng nhanh về trường lớp, về số lượng học sinh  mà chất lượng giảng dạy và học tập của học sinh cũng được nâng lên từng bước. Năm học 1974-1975, Triệu Phong có 12.530 học sinh phổ thông. Đào tạo được 70 giáo viên Mẫu giáo, mở được 69 lớp trên địa bàn 17 xã với 274 cháu.

Phong trào thi đua “Hai tốt” luôn được duy trì và phát triển liên tục. Chủ đề “Kinh nghiệm tốt, bài dạy hay-thầy trò hăng say lập công dâng Bác”, Toàn ngành phát động phong trào thi đua dạy tốt như “Mời anh đến thăm lớp tôi”, “Luyện tay nghề thi đua giỏi” , “Chống dạy thay-chống cho vay giáo án”...đã lôi cuốn đại bộ phận giáo viên tham gia. Số lượng học sinh khá giỏi luôn ở mức cao (35%), tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, được lên lớp đạt 90%; có nhiều xã đạt 100%.

 

Để giải quyết một phần khó khăn trong công tác phân bố đội ngũ giáo viên trên địa bàn, Huyện uỷ đã chỉ đạo tổ chức đào tạo lớp cấp tốc tại chỗ cho 200 giáo viên theo mô hình 3 +7 và 7+3(1) để dạy BTVH. Ngoài ra, huyện còn tổ chức học tập, huấn luyện nghiệp vụ cho 175 giáo viên cũ trên địa bàn huyện để sử dụng trong công tác giảng dạy (giáo viên lưu dung) đưa tổng số giáo viên trên địa bàn huyện lên đến 696 người (trong đó miền Bắc chi viện là 392 người, 160 giáo viên lưu dung, 98 giáo viên đào tạo cấp tốc tại Quảng Bình và 56 giáo viên được đào tạo tại địa phương.)                                    

Cuối năm 1973, huyện củng cố lại trường BTVH, mở rộng cơ sở vật chất, tăng cường lực lượng giáo viên để đảm bảo khả năng chiêu sinh từ 150 đến 200 học viên trên một khoá học. Phong trào học BTVH ban đêm ở các địa phương luôn được duy trì với 967 lớp và 14.000 học viên. Nhờ đó, công tác xoá mù nâng cao trình độ văn hoá cho cán bộ và nhân dân đã có những chuyển biến tích cực. Đến cuối năm 1975, Triệu Phong đã có 6.622 người thoát nạn mù chữ, đưa số người thoát mù chữ của huyện lên đến 15.472 người (nếu tính từ năm 1972).

 

2/ Giáo dục Triệu Phong từ ngày được tỉnh ra quyết định chính thức thành lập (tháng 4/1976 ) đến thời kỳ Bình Trị Thiên (1989).

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với việc ổn định các mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội; giáo dục Triệu Phong nhanh chóng được tỉnh sắp xếp theo hướng thống nhất toàn tỉnh và phát triển có hệ thống.

Ngày 02/04/1976, UBND Cách mạng tỉnh Quảng Trị có quyết định số 29/QĐ do ông Lê Lan-chủ tịch UBND Cách mạng tỉnh Quảng Trị ký quyết đinh: Nay chính thức thành lập phòng giáo dục huyện Triệu Phong và đề bạt ông Nguyễn Văn Truyền, nguyên phụ trách phòng giáo dục huyện Triệu Phong nay giữ chức vụ trưởng phòng giáo dục huyện Triệu Phong . ( xem phụ lục cuối sách.)

Nhờ có sự chuẩn bị từ trước (từ 1973 đến 1975) nên cơ sở vật chất cho giáo dục Triệu Phong sau khi được chính thức thành lập đã tạm thời đáp ứng việc cho dạy và học. hầu hết các xã được cấp gỗ, xi măng và tấm lợp bằng tôn để làm từ 8 đến 15 phòng học Tiểu học và một số phòng học, làm cơ sở ban đầu cho trường cấp 2 sau này. Trên cơ sở vật tư ít ỏi đó, các địa phương đã vận động nhân dân đóng góp táp lô, gạch, tre tận dụng được từ việc đào bới các nhà đổ nát, để thêm vào xây dựng trường. Sử dụng các tàn binh nguỵ đã được qua giáo dục, cải tạo, góp công xây dựng trường sở.

 Phòng giáo dục huyện có một bộ phận chuyên lo việc xin kinh phí, khai thác nguồn gỗ, thuê thợ đóng bàn ghế để cấp phát  cho các trường trong địa bàn.

 

         

(1)    Học xong lớp 3 được bồi dưỡng thêm nghiệp vụ sư phạm 7 ngày (3+7)

Học xong lớp 7 được bồi dưỡng thêm nghiệp vụ sư phạm 3 ngày (7+3)

Nhờ vậy, đến cuối năm 1977, 100% trường học trong huyện được xây dựng tương đối khang trang ở mức tranh, tre, tường gạch hoặc tạm thời, mái ngói hoặc tấm lợp bằng tôn.

Chất lượng giáo dục phổ thông do đó ngày càng được nâng cao.

 

Năm học 1975-1976, Triệu Phong có học sinh giỏi văn toàn quốc. Phòng giáo dục được Ty giáo dục tỉnh tặng  thưởng. Ngành BTVH đã được củng cố và trở thành một ngành học được tổ chức có hệ thống từ tổ chức đến chương trình. Ở Phòng có bộ phận cán bộ làm BTVH, do đồng chí Nguyễn Khắc Chinh làm tổ trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Phẩm (hiệu trưởng cấp 2 ở Hà Tây) và một số giáo viên Tiểu học chuyển sang làm cán bộ chuyên trách BTVH . Ở các xã, có một giáo viên phổ thông cử sang làm chuyên trách BTVH, thực hiện phương châm “Một hội đồng hai nhiệm vụ” rất chặt chẽ. Lẽ vậy, giữa năm 1977, đoàn kiểm tra của Bộ giáo dục, Ty giáo dục Quảng Trị về kiểm tra và công nhận huyện Triệu Phong xoá xong nạn mù chữ cho toàn dân.

Về tổ chức Đảng và đoàn thể: Từ thực tế phát triển nhanh và mạnh của đội ngũ giáo viên, hàng trăm giáo viên miền Bắc vào là đảng viên, đoàn viên thanh niên và đoàn viên công đoàn. Thường vụ huyện uỷ Triệu Phong cho phép thành lập “Đảng bộ ngành giáo dục”. Tháng 02/1976, Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ ngành giáo dục Triệu Phong ra đời và sau đó hai tháng đã tiến hành tổ chức Đại hội toàn thể. Ngày 4/6/1976, Ban thường vụ huyện uỷ Triệu Phong đã có quyết định số 26/QĐ về việc chuẩn y bầu cử và phân công ban chấp hành Đảng uỷ ngành giáo dục huyện với 7 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn Truyền-huyện uỷ viên- trưởng phòng giáo dục làm bí thư Đảng uỷ (xem phụ lục cuối sách) Đảng bộ lúc này có 6 chi bộ (4 Chi bộ trường THCS, 1 Chi bộ phòng và 1 Chi bộ trường BTVH huyện).

-         Chi bộ Phòng Giáo dục do đồng chí Nguyễn Văn Truyền làm bí thư.

-         Chi bộ truờng BTVH huyện do đồng chí Nguyễn Khắc Chinh làm bí thư

-         Chi bộ truờng cấp 2 Triệu Lương do đồng chí Nguyễn Viết Trinh làm bí thư

-         Chi bộ truờng cấp 2 Triệu Phước do đồng chí Nguyễn Công Chương làm bí thư

-         Chi bộ truờng cấp 2  Triệu Độ do đồng chí Nguyễn Tân làm bí thư

-         Chi bộ truờng cấp 2 Triệu Thuận do đồng chí Lê Văn Phụng làm bí thư.

Các trường Tiểu học ít Đảng viên nên sinh hoạt chung với các Đảng uỷ xã. Ngay sau khi có tổ chức Đảng của ngành, Công đoàn ngành và Chi đoàn thanh niên đã được tổ chức. Đảng uỷ phân công đồng chí Nguyễn Như Thịnh-Phó trưởng phòng giáo dục, Phó bí thư Đảng uỷ phụ trách công tác Công đoàn. Đại hội Công đoàn ngành( bao gồm cả THCS, Tiểu học, BTVH, Mầm non) khai mạc ngày 21/08/1976, bầu đồng chí Nguyễn Văn Truyền làm Chủ tịch Công đoàn ngành.

Công đoàn ngành ra đời là sự kiện quan trong, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong tình hình mới. Công đoàn là tổ chức tập hợp lực lượng giáo viên toàn huyện cùng hoạt động, thi đua dạy tốt, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Với các giáo viên miền Bắc chi viện, đây là nơi bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình; với giáo viên cũ, đây là nơi tập hợp, đoàn kết và thực hiện chính sách. Nhiều giáo chức cũ sau một thời gian ăn lương lưu dung (Theo mức lương cũ) đã tình nguyện hưởng lương mới như giáo viên Cách mạng.

Công đoàn đã tích cực hoạt động về mặt hỗ trợ đời sống giáo viên. Trong lúc cơ sở vật chất để sinh hoạt tập thể của giáo viên các trường còn hết sức khó khăn thì Công đoàn ngành đã tổ chức nuôi lợn, cung cấp thêm thịt cho giáo viên trong ngành. Tổ chức các buổi liên hoan, đón xuân  cho giáo viên miền Bắc xa nhà; tổ chức lao động sản xuất để tự túc lương thực, nâng cao, cải thiện đời sống cho đội ngũ. Lúc này ngành có đội bóng chuyền nam và đội bóng chuyền nữ mạnh nhất huyện.

Đảng bộ phân công đồng chí Bùi Văn Hai-giáo viên Nghệ An đi B, Đảng uỷ viên phụ trách tổ Tiểu học của Phòng, đảm nhiệm thêm công tác thanh niên. Chi đoàn thanh niên Phòng và trường BTVH  huyện đã hoạt động rất tích cực, nhất là hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, gây được không khí vui tươi, lành mạnh không những trong giáo dục mà còn ảnh hưởng tốt trong xã hội.

Ngày 5/3/1977, tỉnh uỷ Bình Trị Thiên ra quyết định 02 về “Sát nhập một số huyện, thị trong tỉnh”. Thực hiện Nghị quyết trên và Nghị định của chính phủ, huyện Triệu Phong đã hợp nhất với huyện Hải Lăng thành huyện Triệu Hải. Việc thành lập huyện Triệu Hải nằm trong xu thế chung của cả nước, có nhiều điều kiện thuận lợi và khó khăn đan xen nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục Triệu Hải bước sang một giai đoạn mới, có nhiều thay đổi về cả tổ chức, phạm vi nội dung hoạt động.

Về tổ chức: Phòng giáo dục Triệu Hải là sự sát nhập của hai Phòng giáo dục, lấy trụ sở phòng giáo dục Triệu Phong làm trụ sở, giữ gần nguyên đội ngũ cán bộ của hai Phòng, trừ một số nhân viên phục vụ hoặc cho về trường hoặc chuyển công tác. Đội ngũ cán bộ phòng lúc này lên đến 31 người. Đồng chí Nguyễn Văn Truyền giữ chức vụ trưởng phòng, đồng chí Nguyễn Đức Dũng-nguyên trưởng phòng giáo dục Hải Lăng làm Phó trưởng phòng. Đồng chí Nguyễn Như Thịnh chuyển sang làm chuyên trách Công đoàn, giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn ngành giáo dục Triệu Hải. Đảng bộ ngành giáo dục giải thể, chuyển các đảng viên về hoạt động tại các xã.

Ty giáo dục Quảng Trị điều đồng chí Nguyễn Hữu Quang, nguyên Trưởng phòng phổ thông Ty giáo dục Quảng Trị, hiệu trưởng trường cấp 3 Đông Hà về làm Phó trưởng phòng giáo dục và sau đó ít lâu đồng chí Nguyễn Đức Dũng chuyển về làm hiệu trưởng cấp 3 khu vực Hải Lăng cũ.

Trọng tâm công tác lúc này của ngành giáo dục Triệu Hải là quyết tâm thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, phát triển giáo dục toàn diện, xây dựng các trường học thành Trung tâm văn hoá-khoa học của địa phương; đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt - học tốt”. Tăng cường công tác chống mù chữ cho toàn dân.

Mở màn là đợt sinh hoạt chính trị cho giáo viên toàn huyện với nội dung chủ yếu là: Bồi dưỡng quan điểm lập trường cho đội ngũ giáo viên theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng lúc bấy giờ. Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và giáo viên chính trị (giáo dục đạo đức) về nội dung 5 điều Bác Hồ dạy thanh thiếu niên nhi đồng để tổ chức sinh hoạt Đoàn, Đội trong các trường học.

Tiếp theo là đợt phát động thầy cô giáo nghiên cứu thực nghiệm khoa học, phục vụ đời sống, phục vụ dạy tốt, học tốt. Kết  quả là phòng giáo dục đã có đợt sơ kết, trưng bày sản phẩm tại Hội nghị khoa học. Nhiều đề tài thử nghiệm được đánh giá cao như đề tài: “Trồng khoai tây trên đất Triệu Hải”; “Dùng dầu hoả ngâm các tiêu bản động vật thay phóoc môn dùng trong sinh học...”

Cùng với các hoạt động về chuyên môn là các hoạt động văn nghệ, TDTT....đã góp phần làm cho công tác giáo dục tư tưởng, làm cho đội ngũ giáo viên toàn huyện có điều kiện giao lưu, học hỏi, hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau xây dựng giáo dục Triệu Hải thành đơn vị vững mạnh về mọi mặt của giáo dục Bình Trị Thiên.

Giữa năm 1977, đồng chí Nguyễn Kỳ, Giám đốc Sở giáo dục Bình Trị Thiên đã dành một tuần lễ về dự và rút kinh nghiệm xây dựng các điển hình tiên tiến của giáo dục Triệu Hải. Tại Hội nghị tập huấn về giáo dục của tỉnh Bình Trị Thiên năm 1977-1978, Sở giáo dục tỉnh đã giao cho Phòng giáo dục Triệu Hải báo cáo kinh nghiệm về kế hoạch hoạt động năm học mới, năm học 1978-1979.

Ngày 15/11/1978, tại quyết định số 448/QĐ-TV của thường vụ Tỉnh uỷ Bình Trị Thiên, đồng chí Nguyễn văn Truyền  chuyển về công tác tại Ban khoa giáo Thành uỷ Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Hữu Quang được đề bạt làm trưởng phòng Giáo dục Triệu Hải (xem phụ lục cuối sách).

Cơ quan Phòng giáo dục bắt đầu từ năm học  1979-1980 do đồng chí Nguyễn Hữu Quang làm Trưởng phòng; đồng chí Nguyễn Văn Song làm phó trưởng phòng kiêm Bí thư chi bộ. phòng có các bộ phận sau:

-Bộ phận Tổ chức và thanh tra do đồng chí Hồ Thanh Nghị (người Nam Định)làm trưởng bộ phận sau đó đồng chí Trương Đình Hoài lên thay.

- Bộ phận Phổ thông (bao gồm cả cấp 1 và cấp 2): do đồng chí Bùi Văn Hải (người Nghệ An), sau khi đồng chí Hải ra quê,  đồng chí Văn Ngọc Lợi làm trưởng bộ phận.

- Bộ phận Bổ túc văn hoá: do đồng chí Nguyễn Khắc Chinh làm trưởng bộ phận sau đó chuyển sang đồng chí Hoàng Quốc Hội.

- Bộ phận Mẫu giáo: Trưởng bộ phận lúc đầu là đồng chí Hoàng Thị Hồng (người Quảng Bình) sau đó đồng chí Đỗ Minh Phồn lên thay.

- Bộ phận Tài vụ: Trưởng bộ phận lúc đầu là đồng chí Trương Hồng Tân, sau khi đồng chí Tân đi học, đồng chí Nguyễn Văn Hùng rồi đồng chí Trương Minh Trai lên thay.

- Bộ phận Thiết bị- thư viện: do đồng chí Võ Bùi và Nguyễn Hữu Tảo phụ trách.

Về Công đoàn ngành giáo dục: Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Truyền chuyển ra Hà Nội, Công đoàn ngành còn đồng chí chuyên trách Nguyễn Văn Thuận. Tại Đại hội Công Đoàn ngành lần thứ 2, khai mạc tại thôn Hải Thượng, đồng chí Nguyễn Văn Song được bầu làm thư ký Công đoàn.

Cuối năm 1979 đầu năm 1980, Phòng Giaó dục được đổi tên từ Phòng sang Ban, có tên gọi: Ban giáo dục-Bà mẹ trẻ em (nhập thêm Phòng bà mẹ trẻ em huyện).Lãnh đạo Ban lúc đầu có 3 đồng chí: Đồng chí Nguyễn Hữu Quang giữ chức trưởng ban. Đồng chí Nguyễn Văn Song - Phó ban, phụ trách BTVH kiêm bí thư chi bộ. Đồng chí Sử Thị Lan: Phó Ban bảo vệ bà mẹ trẻ em. Cơ cấu của Ban có thay đổi một bộ phận: Bộ phận Mẫu giáo đổi thành bộ phận Mầm non, đồng chí Sử Thị Lan kiêm nhiệm. Bộ phận BTVH do đồng chí Nguyễn Ngọc Nhơn làm trưởng bộ phận, đồng chí Hoàng Quốc Hội chuyển về trường Bồi dưỡng cán bộ giáo viên.

Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Thuận chuyển về làm hiệu trưởng trường  cấp 1+2 Triệu Lương, đồng chí Phan Văn Khải lên làm chuyên trách công tác Công Đoàn ngành. Đến năm 1983, đồng chí Lê Hữu Các giữ chức vụ Chủ tịch Công Đoàn ngành giáo dục Triệu Hải.

Năm 1984, đồng chí Nguyễn Hữu Quang được Hội đồng nhân dân huyện bầu làm uỷ viên thư ký UBND huyện Triệu Hải. Tại quyết định số 19/QĐ-UB ngày 24/05/1984 của UBND huyện Triệu Hải đổi Ban giáo dục Bà mẹ trẻ em thành Phòng giáo dục Triệu Hải và đồng chí Nguyễn Văn Song giữ chức Trưởng phòng. Đồng chí Văn Ngọc Lợi được cử làm Phó trưởng phòng kiêm thư ký Công đoàn huyện. Cuối năm 1986, đồng chí Nguyễn Văn Song được cử làm phó chủ tịch UBND huyện; đồng chí Dương Ngọc Dũng-hiệu trưởng trường cấp 3 Hải Lăng được cử làm trưởng phòng cho đến ngày chia tách huyện.(1990)

Việc sát nhập hai huyện cho phép Đảng bộ và nhân dân Triệu Hải khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh để phát triển. Tuy nhiên, khó khăn đối với sự nghiệp giáo dục của huyện lúc này là địa bàn rộng, phức tạp lại chịu hậu quả hết sức nặng nề do chiến tranh để lại. Thiên tai khắc nghiệt, hạn hán bão lụt thường xuyên, gây tổn thất về người và của quá nhiều: Đợt hạn năm 1978 kéo dài phải tổ chức ngăn sông Thạch Hãn để tìm nước ngọt cứu cho người và cây trồng, vật nuôi; năm 1980 lũ lớn làm vỡ đê An Tiêm phá sạch nhà cửa, ruộng vườn của một số làng; năm 1983 cơn đại hồng thuỷ làm 135 người chết, ruộng đồng, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội bị san phẳng; năm 1985, đầu vụ Đông- Xuân gặp hạn nặng, tháng 10 gặp bão lớn...nạn đói, thất bát trong nhân dân xảy ra trên diện rộng; lương thực dự trữ của huyện không đủ để cứu đói. Địch họa dồn dập: Năm 1978 chiến tranh biên giới Tây Nam của Tổ quốc chưa kịp dứt tiếng súng thì năm 1979 chiến tranh biên giới phía Bắc đã diễn ra. Đảng bộ và nhân dân Triệu Hải một lần nữa phải cùng với đồng bào cả nước ra trận đánh giặc. Cơm chưa đủ no phải tiếp tục “thắt lưng buộc bụng”, hầm hào trong chiến tranh chưa kịp san lấp để xây dựng kinh tế lại phải đào thêm, làm chắc hơn để củng cố thế trận quốc phòng. Kẻ thù bên trong luôn rình rập phá hoại, lôi kéo vượt biên, vượt biển, kích động, gây rối làm mất trật tự trị an thôn xóm.

Từ ngày 27 đến 30/04/1977, Đảng bộ huyện Triệu Hải đã triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất. Quán triệt sâu sắc chủ trương: “Phát huy tinh thần tự lực, tự cường là sức mạnh tổng hợp, quyết tâm xây dựng một bước cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa và tổ chức lại sản xuất trên đại bàn tỉnh, cải thiện một bước đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân”(1).

Thực hiện đường lối cải cách giáo dụccủa Đảng, Nghị quyết của Đảng bộ, ngành giáo dục huyện quyết tâm phấn đấu trên mọi mặt nhằm góp phần xây dựng huyện Triệu Hải thành huyện mạnh toàn diện về kinh tế,văn hoá giáo dục,an ninh quốc phòng và xây dựng Đảng. Với khí thế hào hùng, phấn khởi sau chiến tranh thắnglợi, bằng truyền thống cần cù, anh dũng, đoàn kết của nhân dân trong huyện, giáo dục Triệu Hải đã phấn đấu khắc phục khó khăn, quyết tâm phát triển mạnh, cân đối ba ngành học: Phổ

 
 
 


(1)   Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Triêu Hải lần thứ nhất.

Thông, Bổ túc văn hoá.

Nhiệm vụ đặt ra cho toàn huyện và ngành giáo dục nói riêng là phải giải quyết vấn đề mâu thuẩn gay gắt giữa nhu cầu học của nhân dân với cơ sở vật chất hiện có.

Đảng bộ huyện đã đề xuất nhiều biện pháp tích cực nhằm phát huy ý thức tự lực, tự cường, huy động sức mạnh của toàn xã hội để chăm lo sự nghiệp giáo dục. Nhờ vậy, trong những năm từ 1977-1990, ngành giáo dục huyện đã từng bước tháo gỡ khó khăn và có những bước phát triển vượt bậc. Lúc này tại huyện có các trung tâm:

- Trường BTVH huyện đào tạo cho cán bộ đương chức của huyện cũng như các xã có trình độ cấp 1,2,3. Hàng trăm cán bộ được đào tạo có hệ thống, sau này trở thành cán bộ chuyên môn cấp huyện, cán bộ chủ chốt cấp xã. Hiệu trưởng trường là đồng chí Phan Văn Liêm.

- Trường Bồi dưỡng cán bộ giáo viên do đồng chí Đào Văn Lai làm hiệu trưởng, có nhiệm vụ bồi dưỡng, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cấp 1 của ngành đã bồi dưỡng được 132 người qua các khoá học.

- Trường dạy nghề do  đồng chí Phan Văn Long giữ chức hiệu trưởng, làm nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi cho cán bộ tuyến xã, đã có hơn 285 lượt người tham gia lớp học.

- Trung tâm dạy nghề và xưởng thiết bị dạy học do đồng chí Hoàng Đình Xuân làm giám đốc, trung tâm có nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh phổ thông, sản xuất một số đồ dùng dạy học để phục vụ cho dạy và học trong toàn huyện.

- Trường chuyên huyện do đồng chí Trần Đăng Niệm làm hiệu trưởng có nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cho học sinh cấp 1, 2. Đây là trường nhiều lần được Sở giáo dục Quảng Trị đánh giá chất lượng cao, tặng nhiều bằng khen về chất lượng bồi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước. Năm 1978, đội học sinh giỏi của huyện đạt giải nhất bậc PTCS toàn tỉnh và trong kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc năm 1979, trong đội tuyển gồn 100 học sinh giỏi của tỉnh, huyện có 25 em xuất sắc tham gia. Năm học 1978-1979, trong kỳ thi học sinh giỏi các tỉnh phía Nam, huyện đã có 9 học sinh tham gia và 5 em đạt giải xuất sắc.

Tại các xã, ngành học phổ thông phát triển và có những bước đi vững chắc. Sau khi bàn giao hai xã Triệu Lương và Triệu Lễ, Triệu Phong còn lại 19 xã và thị trấn. Mỗi xã có 1 trường cấp 1+2, riêng Triệu Phước có hai trường. Hải Phúc và Triệu Vân chỉ mới có một trường. Ngành BTVH cũng phát triển mạnh ở tuyến xã. Một số xã đã xây dựng khá hoàn chỉnh trường BTVH vừa học vừa làm, lấy giáo viên phổ thông ở các trường cấp 1+2 giảng dạy, mỗi xã có một người làm công tác chuyên trách. Điển hình như xã Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Đông...Đến năm 1985 đã có 20/43 xã có lớp BTVH vừa học vừa làm, với 700 học viên; trường Bổ túc dân chính có 255 học viên cấp 1 và cấp 2. Kết quả nổi bật của phong trào học BTVH ở Triệu Hải là từng bước nâng cao chất lượng văn hoá cho cán bộ trẻ và xây dựng rộng mô hình học văn hoá ban đêm cho các tầng lớp nhân dân. Ngành học Mầm non do điều kiện kinh tế còn khó khăn; trong lúc toàn huyện tập trung sức chăm lo cho giáo dục phổ thông, thì các xã chủ động xây dựng trường học Mẫu giáo, nhà trẻ tại địa phương mình. Tại các cơ quan huyện cũng có nhóm trẻ riêng. Nhiều xã làm tốt công tác này như: Triệu Long, Triệu Thuận, Triệu Hoà, Triệu đại,Triệu Đông, Triệu Thượng, Thị trấn. Trường mầm non thị trấn Quảng Trị là một trong những trường mạnh, điển hình của huyện, được Bộ giáo dục cấp bằng khen. Ngành học mầm non lúc này chủ yếu là do các xã và hợp tác xã đầu tư về cơ sở vật chất và chủ động trả lương cho giáo viên-cô nuôi dạy trẻ. Đầu năn 1980, toàn huyện mới chỉ có 21/43 xã, thị trấn có nhà trẻ nhưng đến năm 1985 con số này đã là 100%. Số lượng các cháu đến lớp ngày càng đông. Một số xã đã tổ chức cho các cháu học bán trú và mặc đồng phục. Phong trào xây dựng nhà trẻ, đưa con em đến lớp đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành, các đoàn thể và toàn xã hội.

Hệ thống giáo dục phổ thông cơ sở và cấp 3 có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Hàng năm huyện hỗ trợ một nguồn kinh phí đáng kể để xây thêm trường, lớp; mua sắm trang thiết bị dạy và học. Năm 1980 Triệu Hải có hai trường cấp 3(1); 40/42 xã có trường cấp 2 và 100% xã có trường Tiểu học. Thời kỳ đầu các trường chủ yếu được xây dựng bằng tranh, tre nứa lá, đến đây đã có trường xây, điển hình như: Trường thị trấn Quảng Trị, Triệu Đông, Triệu Hoà, Triệu Thuận, Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đại.

Ngày 10 tháng 10 năm 1987, UBND tỉnh Bình Trị Thiên có Quyết định số 1156/QĐ-UB về việc thành lập trường THPT Triệu Phong. Đồng chí Phan Văn Ngô  giữ chức Hiệu trưởng. Năm học đầu tiên, trường đã thu hút hơn 380 học sinh đến học.

 Toàn huyện đã dấy lên phong trào xây dựng khuôn viên nhà trường bằng việc trồng cây, làm đường đi lối lại, trồng cây cảnh. Nhiều đơn vị được tỉnh khen ngợi như Triệu Đại, Triệu Thuận, Triệu Độ...Hầu hết các trường đã tập trung xây dựng thư viện-thiết bị. Phong trào làm đồ dùng dạy học, viết sáng kiến kinh nghiệm rộ lên, giáo viên tham gia nhiệt tình say mê. Lẽ vậy, chưa bao giờ trong đội ngũ giáo viên, trong trường học lại dấy lên một phong trào rầm rộ như thế. Hàng trăm đồ dùng dạy học có chất lượng, hàng chục sáng kiến kinh nghiệm hay đã được đưa vào áp dụng, triển khai trong toàn huyện, góp phần không nhỏ trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trồng người; nâng cao chất lượng dạy và học, để lại niềm tin vững chắc trong nhân dân.

Về phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao cũng được toàn ngành hưởng ứng. 100% trường học đều có đội văn nghệ, thường xuyên tập luyện và tham gia hội diễn nhân các ngày lễ lớn trong năm.  Phòng giáo dục cũng đã thành lập đội văn nghệ xung kích, thường lưu động công diễn được nhân dân đồng tình ủng hộ, được dư luận đánh giá cao.

Tại buổi tổng kết 7 năm xây dựng cơ sở vật chất trường học huyện Triệu Hải (1977-1983), đồng chí Nguyễn Kỳ giám đốc Sở giáo dục Bình Trị Thiên đánh giá cao sự nổ lực vượt bậc của ngành giáo dục Triệu Hải trong việc xây dựng cơ sở vật chất trường học. UBND huyện Triệu Hải khen thưởng các tập thể, cá nhân:

- Về tập thể: xã Triệu Hoà, Triệu Thuận.

- Về tập thể trường: PTCS Triệu Thuận, PTCS Triệu Hoà và Tổ cơ sở vật chất thuộc văn phòng Phòng giáo dục Triệu Hải.

- Về cá nhân: đồng chí Nguyễn Văn Song, Dương Ngọc Dũng, Phạm Như Thanh (xưởng thiết bị) Hoàng Văn Quang (Bí thư xã Triệu Thuận), Phạm Quang Thiên (Bí

 
 
 


(1)   Ngoài  trường cấp 3 thị xã Quảng Trị, có thêm trường cấp 3 Bồ Bản và Diên Sanh

thư xã Triệu Hoà), Trương Minh Trai, Trương Sĩ Nam, Nguyễn Hữu Tảo, Nguyễn Khoa Minh (Phòng giáo dục Triệu Hải), Trần Xuân Uẩn (Hiệu trưởng trường PTCS Triệu Thuận), Ngô Văn Phồn (Hiệu trưởng trường PTCS Triệu Hoà), Lê Dư (Hiệu

trưởng trường PTCS Triệu An).

Cùng với cơ quan chuyên môn, Công Đoàn ngành giáo dục là tổ chức hoạt động mạnh, hiệu quả, góp một phần quan trọng trong quá trình phấn đấu, trưởng thành của sự nghiệp giáo dục Triệu Hải.

- Công đoàn đã tham gia xây dựng kế hoạch hàng năm của ngành, của trường, thực sự là tổ ấm trong các hội đồng sư phạm.

- Công đoàn đã phát động phong trào thi đua “Hai tốt” trong đội ngũ giáo viên, xây dựng đội ngũ theo tinh thần “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo”; phong trào xây dựng “Trường cho ra trường, lớp cho ra lớp, thầy cho ra thầy, trò cho ra trò” Do đó, đội ngũ cán bộ giáo viên đã vì học sinh thân yêu phấn đấu bám trường, bám lớp trong mọi tình huống, mỗi trường học, mỗi đơn vị Công đoàn đã tổ chức vận động toàn dân tham gia xây dựng giáo dục, ủng hộ, giúp đỡ giáo viên, giúp đỡ nhà trường trong việc khắc phục khó khăn, giải quyết đời sống, xây dựng cơ sở vật chất trường lớp. Các đồng chí là cán bộ quản lý là cán bộ Công đoàn, ngày đêm tận tụy với ngành, với trường như đồng chí Nguyễn Lý (Hiệu trưởng PTCS Triệu Đại), đồng chí Lê Dư (Hiệu trưởng trường PTCS Triệu An); đồng chí Phan Ngô (Hiệu trưởng trường PTCS Triệu Độ), đồng chí Trần Thị Nghi (Cán bộ công đoàn trường PTCS Triệu Long), đồng chí Ngô Văn Phồn (Hiệu trưởng trường PTCS Triệu Hoà)...Cán bộ giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng biển, vùng núi Ba Lòng, Hải Phúc , Triệu Nguyên hay Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An luôn luôn bám trường, bám lớp, luôn luôn có bản lĩnh, giữ được phẩm chất, tư thế người thầy.

Không phải ngẫu nhiên mà ngành giáo dục Triệu Hải từ trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn trăm bề đã gặt hái được nhiều thành tích như vậy. Đó chính là quá trình phấn đấu bền bĩ, lâu dài, sự nổ lực của cả một tập thể đội ngũ thầy cô giáo ngày đêm miệt mài, tự đối diện với chính mình, đối diện với thực tế, đối diện với tri thức, tỳ vịnh vào chính mình để đứng dậy, để dạy học. Họ đã biết kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương. Đi lên từ truyền thống Cách mạng và hiếu học, mọi giá trị tinh thần sẽ được phát huy và có sức mạnh thúc đẩy. Đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng hướng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ I (1977) và Đại hội Đảng bộ lần thứ II (13/11/1980 ) đề ra. Đó cũng chính là sự phản ánh sinh động nhất việc huy động mọi nguồn lực, phục vụ cho sự nghiệp “trồng người” của ngành giáo dục huyện.

 

3/ Giáo dục Triệu Phong từ ngày tái lập lại huyện (1990-2000)

Thực hiện Nghị quyết 86/NQ-BCT 14/4/1989 của Bộ chính trị và Nghị quyết kỳ họp thứ V Quốc Hội khoá VIII về việc chia tách một số đơn vị cấp tỉnh để phù hợp với địa giới hành chính. Đáp ứng tình hình mới của Cách mạng. Ngày 30/6/1989, Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vịêt Nam quyết định chia tỉnh Bình -Trị -Thiên thành 3 tỉnh: Tỉnh Quảng Bình, Tỉnh Quảng Trị và Tỉnh Thừa Thiên Huế. Giáo dục Quảng Trị cũng được tách ra thành một Sở giáo dục riêng: Sở GD-ĐT Quảng Trị ra đời do đồng chí Trương Sĩ  Tiến làm giám đốc.

Từ đây, lịch sử tỉnh Quảng Trị nói chung, GD-ĐT Quảng Trị nói riêng thực sự chuyển sang trang mới với biết bao khó khăn thách thức, nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội mới, vận hội mới.

Trong bối cảnh đó, ngày 23/3/1990, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số 91/HĐBT về việc chia tách huyện Triệu Hải thành 3 đơn vị hành chính: Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị. Như vậy, ngày 01/05/1990 huyện Triệu Phong được lập lại.

 

 Toàn huyện có 21 xã, 19.520 hộ, với 94.884 nhân khẩu, 43.941 lao động. Diện tích tự nhiên của huyện là 51.200 ha.(1)

Ngày 30/4/1990, Phòng GD Triệu Phong được tách ra từ Phòng GD Triệu Hải. Phòng Giáodục lúc đầu đóng tại đất Thị xã Quảng Trị. Năm 1992, Phòng chuyển ra đóng tại Thị trấn Ái Tử - một mảnh đất anh dũng kiên cường cũng là nơi còn lắm bom mìn do chiến tranh để lại. Trong những ngày đầu mới ra, cơ quan Phòng làm việc trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn, với một dãy nhà cấp 4, che chắn bằng ri sắt. Đội ngũ cán bộ Phòng còn thiếu, Giáo dục Triệu Phong đứng trước yêu cầu là phải sớm bố trí, sắp xếp lại hệ thống trường lớp, đội ngũ, cho phù hợp với tình hình mới; phải tập trung huy động mọi nguồn lực nhằm xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học.

Lúc này, thiên tai thời tiết hết sức khắc nghiệt, đợt hạn hán kéo dài năm 1993 làm cho vụ sản xuất hè thu mất trắng; liên tiếp trong các năm 1994, 1995, 1997 lũ lụt làm thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp và kết cấu hạ tầng….Do đó, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tác động không nhỏ đến sự nghiệp Giáo dục Đào tạo. Đứng trước tình hình đó, Giáo dục- Đào tạo Triệu Phong luôn luôn được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và mọi tầng lớp nhân dân, tạo được thếlực cho sự nghiệp phát triển Giáo dục trước mắt cũng như lâu dài.

Phòng Giaó dục Triệu Phong do đồng chí Nguyễn Hữu Quang làm trưởng Phòng. Để đáp ứng tình hình giáo dục trên địa bàn rộng, phức tạp, bộ máy tổ chức Phòng có các bộ phận sau:

-         Bộ phận Chuyên môn gồm có các đồng chí: Lê Văn Ích, Hoàng Văn Tụng, Lê Trường Sơn, Lê Quang Minh, Hoàng Minh Tương, Đỗ Thị Lan. Đồng chí Lê Văn Ích làm tổ trưởng. Từ năm 1996 trở lại đây bộ phận chuyên môn có các đồng chí: Trần Xuân Dục, Hoàng Minh Tương, Lê Quang Minh, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Thị Lan, Lê Thị Bảy, Trần Mừng.

-         Bộ phận Tổ chức cán bộ gồnm có đồng chí Trần Xuân Dục, Trương Sỹ Nam. Đồng chí Trần Xuân Dục làm tổ trưởng. Hiện nay, đồng chí Nguễn Hữu Quảng phụ trách.

-          Bộ phận Bổ túc văn hoá gồm có đồng chí Nguyễn Ngọc Nhơn.

 

 
 
 


(1) Đến tháng 08/1994 thành lập thị trấn Ái Tử. Tháng 10/1996, cắt 3 xã Triệu Nguyên, Ba Lòng và Hải Phúc về huyện Đakarông. (Theo lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong)

          -   Bộ phận Tài vụ, thống kê- tổng hợp: gồm có các đồng chí Nguyễn Khoa Minh, Trần Đức Lương. Đồng chí Nguyễn Khoa Minh làm tổ trưởng. Hiện nay, bộ phận này có đồng chí Trương Sỹ Nam, Nguyễn Hữu Sỹ, Trương Ngọc Linh, Phan Thị

Phước, Trần Dũng. Đồng chí Trương Sỹ Nam làm tổ trưởng.

-         Công đoàn ngành giáo dục do đồng chí Nguyễn Hữu Tảo phụ trách.

-          Những ngày đầu, cơ quan Phòng Giáo dục Triệu Phong còn ít người, nhiều việc, nhưng các bộ phận đã biết phát huy tinh thần cộng đồng trách nhiệm trước công việc. Vượt lên  tất cả, bằng tấm lòng “ yêu nước, yêu nhà, yêu người và yêu mình”, tập thể cơ quan đoàn kết, đùm bọc, cùng nhau dương cao ngọn cờ “ Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”; nhiều đồng chí lãnh đạo tuy tuổi cao sức yếu song ngày đêm thao thức, trăn trở tìm con đường đi ngắn nhất, hiệu quả nhất cho sự nghiệp giáo dục quê hương buổi đầu tái lập lại. Chính vì vậy, cơ quan Phòng giáo dục  không ngừng được tăng cường và lớn mạnh.

Trong thời gian (1990 - 2005), Lãnh đạo Phòng có sự thay đổi. Tháng 8 năm 1999, đồng chí Lê Hữu Các nguyên trưởng phòng hành chính tổng hợp Ban Tổ chức chính quyền Tỉnh Quảng Trị được điều động về làm Phó trưởng phòng Giáo dục huyện. Tháng 6 năm 2004, đồng chí Nguyễn Hữu Quang về nghỉ hưu, đồng chí Lê Hữu Các giữ chức trưởng phòng. Đồng chí Lê Văn Ích - Phó trưởng phòng- chuyển sang làm Hiệu trưởng trường PTTH Vĩnh Định, đồng chí Hoàng Văn Thịa, nguyên hiệu trưởng trường THCS Triệu Thượng, nguyên chuyên viên bộ phận Tổ chức cán bộ Phòng giáo dục được đề bạt làm Phó trưởng phòng.

 

Tháng 4/1991, Đại hội Đảng bộ huyện Triệu Phong lần thứ XIV (1991- 1995) khai mạc, Nghị quyết Đại hội xác định rõ: “Giáo dục là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiệm vụ 5 năm tới là nâng cao giáo dục toàn diện, coi trọng chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh. Từng bước đưa giáo dục hướng nghiệp vào nhà trường. Thực hiện chương tình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục bậc tiểu học. Nhân dân và nhà nước cùng đầu tư kinh phí nhằm duy trì và nâng cao cơ sở vật chất trường học. Tiến hành tách tường PTCS, xây dựng một số trường cấp  2-3 liên xã. Chủ trương xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục Mầm non. Bố trí hợp lý đội ngũ giáo viên để sử dụng có hiệu quả. Kết hợp tốt giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Có kế hoạch huy động lực lượng giáo viên và học sinh tham gia thực hiện một số chương trình kinh - tế xã hội, đặc biệt là công tác trồng cây ở trường học.(1)

Quán triệt tinh thần nghị qiuyết đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XIV, giáo dục Triệu Phong ngay từ năm học đầu tiên (1990-1991) đã từng bước đi vào thế ổn định và phát triển. Phòng GD-ĐT Triệu phong đã chỉ đạo nghiêm túc việc thực hiện chương trình, SGK do Bộ quy định. Tổ chức rút kinh nghiệm về việc thực hiện chương trình 9 năm cải cách bậc THCS. Áp dụng chương trình 120 tuần cho lớp 1 và 2 ở các xã miền núi ( như Ba Lòng, Hải Phúc, Triệu Nguyên) đưa nhanh giáo dục dân số, giáo dục công dân vào các lớp cấp 2. Cải tiến một bước việc nuôi day trẻ theo hệ thống 6 loại chương trình nhóm nhà trẻ và mẫu giáo.

Đặc biệt một sáng kiến mới của lãnh đạo Phòng GD Triệu Phong là lập đề án xây dựng trường THCS Liên xã. Đây là một giải pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, được UBND huyện chấp nhận; nhân dân đồng tình. Sau này mô hình trường THCS liên xã được nhân rộng ra trên địa bàn toàn tỉnh.

 


(1)   Báo cáo của BCH tại Đại hội đai biểu đảng bộ huyện Triệu Phong, nhiệm kì (1991-1995)

 Trên cơ sở mạng lưới từng cấp học được ổn định , các cấp quản lí giáo dục đã chú

trọng các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học và chống mù chữ. Tháng 8/1991, Ban chỉ đạo xoá mù chữ-phổ cập GD Tiểu học được thành lập, kịp thời đề ra những chủ trương, phương pháp hữu hiệu. Tổ chức chu đáo các chiến dịch xoá mù chữ tại Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc, Triệu Vân, Triệu lăng, Triệu Thành, Trấm.

 Phong trào thi đua dạy tốt, học tốt được đẩy mạnh, có những bước cải tiến đáng kể. Việc nuôi dạy ở các Nhà trẻ, Mẫu giáo có nhiều cố gắng. Chất lượng văn hoá có chiều hướng tiến bộ rõ nét, diện mạo giáo dục bước đầu khởi sắc, đem lại niềm tin cho nhân dân.

Ở bậc THPT có 0.9% học sinh giỏi, khá chiếm 13%, yếu chiếm 9.1%.

Ở bậc THCS có 1.2% học sinh giỏi, khá chiếm 20%, yếu chiếm 3.5%.

Ở bậc tiểu học có 7% học sinh giỏi, khá chiếm 20%, yếu chiếm  6.1%.

Chất lượng mũi nhọn cũng gặt hái được những thành tích đáng kể. Trong kỳ thi học sinh giỏi lớp 5 và lớp 9 do tỉnh tổ chức, Triệu Phong có 2 giải nhất, 3 giải nhì, 15 giải ba.

          Với những cố gắng trên, năm học (1990- 1991) - năm học đầu tiên lập lại huyện, giáo dục Triệu phong có 3 đơn vị tiên tiến  xuất sắc cấp tỉnh, 8 đơn vị tiên tiến cấp huyện; 42 giáo viên giỏi và chiến sỹ thi đua các cấp.

          Phong trào xã hội hoá giáo dục  ở Triệu Phong phát triển mạnh mẽ, thành công lớn nhất là hình thức Đại hội giáo dục xã, huyện được bắt đầu năm học (1990-1991). Đồng chí Nguyễn Đức Hoan - Bí thư tỉnh uỷ đã trực tiếp chỉ đạo điểm tại xã Triệu Đông để từ đó nhân rộng mô hình này ra toàn tỉnh. Giáo dục Triệu Phong nói riêng, Giáo dục Quảng Trị nói chung đã tạo ra được một cách tập hợp mới. Cộng đồng được biết, được bàn và cùng tham gia giải quyết một số vấn đề giáo dục của địa phương bằng khả năng của chính mình. Trong hoàn cảnh nghèo khó và còn thiếu thốn, đây là một giải pháp rất có ý nghĩa để vừa ổn định vừa phát triển. Hiệu quả của công tác hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng được nâng lên một tầm cao mới, nhất là phong trào trường học trồng cây-trồng rừng, cải tạo môi sinh, môi trường. Đây là hoạt động có ý nghĩa về kinh tế và giáo dục-ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhiều năm nay, hiệu quả công tác lao động sản xuất, hướng nghiệp cho học sinh bằng vườn ươm cây, trồng cây đã trở thành một mặt hoạt động chất lượng của giáo dục Triệu Phong. Các trường học trong toàn huyện đã trồng được hàng trăm cây lâm nghiệp, cây bóng mát. Giá trị đem lại cho giáo dục từ lao động trồng cây đã góp phần không nhỏ vào việc tu bổ, mua sắm trang thiết bị trường học, cải thiện đời sống cho giáo viên.

 

          Trường PTCS Triệu Thượng, PTCS Triệu Ái là những đơn vị điển hình của huyện về phong trào trồng rừng, được mời tham gia Hội nghị tổng kết công tác trồng cây do Liên Bộ GD-ĐT và Lâm nghiệp tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh 10/1990.
          * Thời kì 1991-1995

          Sự kiện trường THCS Đại Hoà (mô hình trường THCS Liên xã) ra đời đánh dấu một bước tiến mới của GD Triêu Phong trong quá trình chia tách trường PTCS thành trường THCS và Tiểu học. Sau đó, một loạt trường THCS liên xã cũng được thành lập như THCS Trung-Tài (thu hút học sinh từ 2 xã Triệu Trung và xã Triệu Tài); THCS Đông Thành; THCS Giang Ái; THCS An Vân. Những xã có số lượng học sinh đông thì cho phép tách trường PTCS thành 2 trường riêng biệt là THCS và Tiểu học, như: THCS Triệu Thượng, THCS Triệu Phước, THCS Triệu Long, THCS Triệu Độ, THCS Triệu Thuận. Đến năm học 1994-1995 việc chia tách trường đã đi vào ổn định.

          Như vậy giai đoạn này, GD-ĐT Triệu Phong có hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo vẫn giữ nguyên. Ngành học phổ thông và BTVH có sự thay đổi đáng kể. Hệ thống giáo dục quốc dân đã phát triển khá đồng đều, đảm bảo nhu cầu cao của việc chăm sóc, giáo dục,  học tập của con em và các tầng lớp nhân dân lao động, đáp ứng nhu cầu học tập liên tục cho mọi người từ mầm non đế trung học.

          Cùng với việc sắp xếp, quy hoạch lại mạng lưới trường lớp, công tác huy động và duy trì số lượng được Phòng giáo dục triển khai có hiệu quả, bằng nhiều giải pháp tích cực, cụ thể. Hằng năm các đơn vị trường học đều tổ chức điều tra số trẻ trong độ tuổi đi học; lập sổ theo dõi trẻ trong độ tuổi bỏ học,chưa đi học ngoài xã hội; phân công cán bộ-giáo viên phụ trách các địa bàn dân cư để theo dõi, phối hợp. Nhờ vậy, thời gian này đã ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học, huy động số học sinh bỏ học những năm  trước đến trường. Năm học 1995-1996 GD-ĐT Triệu Phong có những bước đi vững chắc, số lượng cũng như chất lượng của 3 ngành học đều phát triển.

 

          Về mạng lưới trường lớp, số lượng học sinh:

- Ngành học mầm non:

Huyện xây dựng được một trường mầm non quốc lập có đủ điều kiện sinh hoạt, vui chơi, học tập và ăn ở cho trẻ (Trường mầm non Trung tâm huyện do cô giáo Trương Thị Thanh Huyền làm hiệu trưởng); 15 trường Mầm non dân lập tại các địa phương đã thu hút 234 cháu vào nhà trẻ, đạt 58,8 % kế hoach đề ra. 134 lớp Mẫu giáo với 4.052 cháu, tăng 4,3% so với năm học 1994-1995. Riêng các cháu 5 tuổi đã huy động được 2.178 cháu.

- Ngành học phổ thông: Toàn huyện có 20 trường Tiểu học, 11 trường THCS, 3 trường PTCS, 1 trường PTTH, 1 Trung tâm Giáo dục kĩ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp dạy nghề; 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên. Bậc Tiểu học huy động được 12.954 học sinh, tăng 0,68% so với năm học 1994-1995, tăng 4,8% so với năm học 1990-1991. Bậc THCS huy động được 5.995 học sinh tăng 12% so với năm học 1994-1995 và tăng 43,4% so với năm học 1990-1991. Bậc THPT có 1.443 học sinh/36 lớp.

- Trung tâm KTTH-HNDN thu hút được 617 học sinh học tập trung và 1.455 học sinh học tại các vệ tinh của trung tâm; đã trang bị kiến thức và kĩ năng cho 2.072 em về các nghề mộc, may, thú y, lâm sinh, điện dân dụng. Và tổ chức dạy nghề cho thanh niên ở các xã về trồng trọt và chăn nuôi để phục vụ theo chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong tình hình phát triển kinh tế mới ở địa phương.

- Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở 3 lớp BTVH cấp 3 tại TTGDTX huyện và 2 lớp tại trường PTTH Triệu Phong cho hơn 200 học viên là cán bộ tuyến xã và học sinh lớn tuổi. Huyện được Tỉnh công nhận là đơn vị đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ từ năm 1993 đến nay. Phổ cập THCS được 2 xã (Triệu Đông, Triệu Long) và  tiếp tục chỉ đạo phổ cập cho 3 xã Triệu Hoà, Triệu Trung, Triệu Thượng vào năm 1997.

Giảm tỉ lệ bỏ học từ 0,85% năm (1994-1995) xuống còn 0,64%.

 

* Về chất lượng giáo dục:

Cùng với việc phát triển số lượng, giáo dục Triệu Phong luôn chú trọng nâng cao chất lượng. Bên cạnh nâng cao chất lượng đại trà còn tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục mũi nhọn. Xây dựng trường trọng điểm chất lượng cao ở từng ngành học, bậc học. Do đó, chất lượng đào tạo từng bước được nâng lên rõ rệt.

-         Thi tốt nghiệp:

Cấp học

Tốt nghiệp(1990-1991)

Tốt nghiệp(1995-1996)

Tiểu học

94,5%

99,1%

THCS

84,5%

90,4%

THPT

81,5%

85,0%

 

-         Chất lượng giáo dục hai mặt:

 

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt%

Khá%

TB%

Yếu%

G%

K%

TB%

Y%

Kém%

Tiểu học

1995-1996

47.07

49.3

3.63

 

7.54

24.4

62.96

5.09

 

THCS

1995-1996

37.8

47094

14.12

 

2.4

18.5

77.6

1.94

0.13

THPT

1995-1996

31.2

49.5

19.3

 

0.8

15.8

62.2

21.2

 

- Trong năm học có 25 em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh, đặc biệt có em Lương Thị Hương, học sinh lớp 4 trường PTCS Triệu Nguyên đã dũng cảm, thông minh cứu bạn chết đuối được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT và UBND tỉnh tặng bằng khen.

 

* Về đội ngũ:

Mặc dù thiếu đội ngũ một cách nghiêm trọng, song Phòng đã có  chính sách cân đối, điều động một cách hợp lí nên việc bố trí đội ngũ toàn huyện đảm bảo cho việc dạy và học. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình thức như: gửi giáo viên đi đào tạo ở các trường sư phạm, tiếp nhận giáo viên đạt chuẩn ở nơi khác chuyển đến, làm trẻ hoá và bổ sung cho đội ngũ giáo viên đang thiếu. Hàng năm cử giáo viên đi dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ. Mỗi năm Phòng gửi đi hơn 50 người. Điều hoà hợp lí giáo viên giữa các trường, các vùng, có chế độ ưu tiên cho trường trọng điểm, trường vùng khó. Luân phiên thực hiện chế độ nghĩa vụ vùng núi, vùng biển. có chính sách cụ thể của địa phương nhằm hỗ trợ thêm cho giáo viên vùng xa xôi, hẻo lánh, giáo viên Mầm non, dân lập để cùng với nhà nước đảm bảo mức lương tối thiểu, mỗi tháng đạt 180.000đ như Nghị định 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ quy định.

Ngành giáo dục tạo được nhiều phong trào thi đua khơi dậy được lương tâm nghề nghiệp trong cán bộ quản lí, giáo viên. Do đó, ý thức tự học, tự rèn, tự bồi dưỡng được nâng lên, có 25 thầy cô giáo đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh, 57 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện, 137 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp trường.

 

* Về cơ sở vật chất:

Trận lụt tháng 9/1995 đã gây thiệt hại nặng nề về cơ sở vật chất đối với các trường lớp trong toàn huyện, Phòng giáo dục tham mưu với UBND huyện để có những giải pháp khắc phục kịp thời. đã đầu tư xây dựng thêm 7 phòng học, 2 phòng thư viện với tổng kinh phí 246 triệu đồng. Đóng mới bàn ghế 106 triệu đồng; 145 triệu đồng đầu tư  mua sắm trang thiết bị. huy động từ nhân dân 235 Triệu đồng để tu sửa trường lớp. tổng kinh phí huy động được là 732 triệu đồng.

* Về công tác xã hội hoá giáo dục:

          Công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được củng cố, nhân rộng và phát triển không những ở bề rộng mà thực sự đi vào chiều sâu. Các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể, các làng, xóm, và họ tộc đã vào cuộc với một không khí phấn khởi, tin tưởng. Hầu hết các xã đã có hội khuyến học, tích cực quyên góp, ủng hộ cho sự nghiệp “trồng người” ở địa phương. Điển hình là xã Triệu Đông, Triệu Hoà, Triệu Trung, Triệu Trạch, Triệu Độ, Triệu Phước, Triệu Tài, Triệu Thuận.

 

*  Về công tác quản lí:

          Hàng năm, ngay từ đầu năm học, ngành chủ động bàn giao chỉ tiêu kế hoạch cho các đơn vị đồng thời tổ chức chỉ đạo tốt các Đại hội giáo dục xã để tạo sự thống nhất đồng bộ; chủ động thực hiện nhiệm vụ năm học; công tác thanh tra kiểm tra được tăng cương và cải biến; công tác thi đua được đổi mới, khen chê đúng người, đúng việc.

          Trong điều kiện đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, kinh tế tập thể còn nhiều eo hẹp, ngân sách địa phương còn thiếu thốn, nhưng do nhận thức được vị trí quan trọng của sự nghiệp giáo dục trong thời kì kinh tế tri thức, GD-Đt Triệu Phong giai đoạn 1991-1996 đã có những bước bứt phá đi lên. Với sự phát triển nhanh về số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo từng bước được cũng cố nâng lên rõ nét ở tất cả các ngành học, cấp học giữa các vùng, giữa đại trà và mũi nhọn, giữa văn hoá cũng như học nghề, diện mạo Triệu Phong sau hơn 5 năm tái lập đã được khởi sắc; đã bắt nhịp những bước phát triển đi lên của thời đại. tại đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Triệu Phong lần thứ XV, nhiệm kì 1996-2000 đã đánh giá khái quat về tình hình GD-ĐT Triệu Phong: “Thực hiện chủ trương của bộ, Phòng giáo dục đã kịp thời xây dựng chiến lược phát triển 1991-1995. Nhanh chóng sắp xếp, quy hoạch mạng lưới trường lớp, tách bậc tiểu học khỏi phổ thjông cơ sở, lập trường THCS liên xã. Hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học và chống mù chữ. Chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên. Giáo viên giỏi, học sinh giỏi, học sinh thi tốt nghiệp hết cấp, vào trường chuyên nghiệp đạt tỉ lệ khá cao của Tỉnh. Phong trào xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh, Mối liên kết giữa nhà trường, gia đình, xã hội ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Hàng năm cơ sở vật chất kĩ thuật được bổ sung đảm bảo cho việc dạy và học ở các trường.”(1)

 

 
 
 


(1)   Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Triệu Phong lần thứ XV, tr18

 Bên cạnh những thành tích nêu trên, GD-ĐT Triệu Phong đến năm 1996 vẫn còn một số tồn tại và yếu kém cần được khắc phục.

Trước hết là cơ sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu so với yêu cầu. Toàn huyện còn thiếu 35 phòng học, 800 chỗ ngồi, 11 đơn vị còn sử dụng phòng học đã

xuống cấp, 7 đơn vị còn sử dụng chung khuôn viên, phòng học, bàn ghế. Gần 85% số trường chưa có văn phòng, thư viện, phòng thực hành riêng biệt. Chưa có một trường Tiểu học, THCS nào ở Triệu Phong có máy vi tính. Đại bộ phận trường học được xây

dựng cấp 4, lâu năm chưa được nâng cấp sửa chữa nên đã xuống cấp.

          Đội ngũ cán bộ - giáo viên vẫn là mối day dứt của huyện trong nhiều năm nay. Việc cân bằng và bổ sung, điều chỉnh đội ngũ trước một địa bàn rộng, phức tạp của huyện  như hiện tại chỉ được coi là giải pháp tình thế, khó chấp nhận về lâu dài. Lương giáo viên Mầm non dân lập quá thấp(100.000-120.000đ/tháng) chưa có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho giáo viên nên đội ngũ này chưa phát huy hết khả năng, chưa yên tâm công tác.

          Đời sống giáo viên tuy được cải thiện nhưng vẫn tiếp tục khó khăn. Toàn huyện có hơn 25-30% cán bộ-giáo viên có điều kiện khó khăn. Mức sống của nhân dân thấp nên việc huy động các nguồn lực cho GD-ĐT còn hạn chế. Kinh phí đầu tư cho giáo dục còn quá ít ỏi, chua tạo được điều kiện cho giáo dục có sự bứt phá cần thiết.

          Trên cơ sở quán triẹt nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XII và Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XV, những thành tích ưu điểm, những tồn tai khuyết điểm và những vấn đề đặt ra ở trên, đòi hỏi mỗi cán bộ, nhân dân Triệu Phong cần phải tiếp tục tổ chức- chỉ đạo- thực hiện công tác giáo dục - đào tạo, nhằm đưa sự nghiệp giáo dục huyện đi lên thực sự vẵng chắc hơn cho những giai đoạn tiếp theo.

 * * *

          Tháng 3 năm 1996, Đại hội đại biểu huyện đảng bộ Triệu Phong lần thứ XV khai mạc. Đây là Đại hội khép lại thiên niên kỷ thứ 2, đánh dấu chặng đường 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Đại hội đã mở ra một thời kỳ mới cho GD - ĐT Triệu Phong phát triển và đi lên (1996 - 2000).

          Ngày 24 tháng 8 năm 1996, Đại hội giáo dục huyện lần thứ nhất khai mạc, đã đề ra kế hoạch phát triển GD - ĐT năm học 1996 - 1997 và giai đoạn 1996 - 2000. Đại hội đã thông qua bản quy ước về công tác giáo dục trên địa bàn huyện Triệu Phong. Tại mục 3 của Quy ước nêu rõ: “ Hội đồng giáo dục huyện chỉ đạo các Hội đồng giáo dục xã, thị trấn thực hiện có hiệu quả việc chăm lo các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học mà đại hội đã đề ra. Phối kết hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể, ban ngành nhằm tuyên truyền, động viên, hướng dẫn toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn mình.”

          Trước những yêu cầu đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tháng 8 năm 1997, Huyện uỷ Triệu Phong ra Nghị quyết số 07/NQ-HU về chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo của huyện đến năm 2000 nhằm “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhân cách, truyền thống quê hương, dân tộc, khả năng tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành”.

          Nhận thức về vai trò, vị trí của GD - ĐT trong gia đoạn mới, sự nghiệp GD-ĐT

đã được các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân quan tâm, chăm lo và thực sự đi vào chiều sâu. Đội ngũ cán bộ quản lý trường học là những người đầu đàn, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, luôn bám trường, bám lớp, đưa phong trào thi đua Hai tốt trong nhà trường ngày càng đi lên.

          Trong 5 năm qua GD- ĐT Triệu phong có những bước tiến mang tính đột phá và rất vững chắc trong việc phát triển quy mô trường lớp, huy động số lượng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trường học. Đặc biệt trong những năm cuối của kế hoạch 5 năm, tốc độ xây dựng trường cao tầng được huyện đầu tư mạnh, chi trong 2 năm 1999, 2000 riêng ngân sách của huyện đầu tư xây dựng 12 trường cao tầng, gần bằng ½ tổng số trường cao tầng hiện có. Năm 1999, huyện đã đầu tư xây dựng thêm trường PTTH Chu Văn An tại địa bàn thị Trấn Ái Tử. Thầy giáo Võ Hàm phó hiệu trưởng trường PTTH Triệu Phong được chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm làm hiệu trưởng. Sự ra đời của trường PTTH Chu Văn An đã đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập ngày càng cao của con em trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh học tập rèn luyện.

          Về quy mô và loại hình đào tạo ở giai đoạn 1996 - 2000, ngành Giáo dục Triệu Phong đã phát triển thêm một số loại hình đài tạo mới như tin học, ngoại ngữ. Mở rộng trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, gắn kết khá chặt chẽ giữa giáo dục văn hoá với đào tạo nghề cho học sinh để đạt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, phhục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.

Hệ thống giáo dục Mầm non, Phổ thông, Bổ túc văn hoá và xoá mù chữ phát triển ở khắp các địa phương trong huyện. Riêng ngành giáo dục Mần non, đến năm 1998, tất cả các xã, thị trấn đã có các lớp Mẫu giáo, Nhà trẻ. Tình trạng trẻ 6 tuổi phải học thêm 36 buổi trong hè, trước khi vào lớp 1 từng bước được khắc phục.

·        Năm năm qua (1996-2000) mạng lưới trường lớp, số lượng học sinh các cấp học, ngành học trong huyện đều tăng. Trên cơ sở quy hoạch phát triển GD-ĐT, huyện đã điều chỉnh mạng lưới trường lớp hàng năm với quy mô phát triển phù hợp với địa bàn dân cư. Đến nay, toàn huyện có 2 trường PTTH; 13 trường THCS; 26 trường Tiểu học; 20 trường Mầm non (19 bán công, 01 công lập). Về công tác huy động và duy trì số lượng, Triệu Phong đã có nhiều giải pháp hiệu quả thiết thực.

Đã có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với địa phương, các đoàn thể, nhất là công tác tuyên truyền vận động đến từng thành viên trong xã hội. Làm tốt công tác điều tra độ tuổi, phối hợp tốt giữa các ngành học, cấp học và cha mẹ học sinh để nắm rõ nguyên nhân cụ thể từng học sinh chưa đến trường để có biện pháp vận động thích hợp. Công tác tuyển sinh đầu năm đã được tiến hành chặt chẽ, đúng quy trình.

 

Ngành học mầm non đến năm học 2000- 2001: toàn huyện có 166 lớp Mẫu giáo; 9 nhóm trẻ độc lập, 4 nhóm trẻ gia đình. Số cháu nhà trẻ huy động được 446/4420   

 

         

          (1) Huyện uỷ Triệu Phong. Chương trình hành động của BCH Đảng bộ huyện (Khoá XV) thực hiện NQ Hội nghị lần thứ 2 của BCH TW Đảng “Về phát triển GD_ĐT, Khoa học Công nghệ”.

cháu, đạt tỷ lệ 10.1%; Số cháu mẫu giáo huy động được 4300/6888 cháu, đạt tỷ lệ 62.4% trong đó cháu 5 tuổi huy động được là 2715/2793 cháu, đạt tỷ lệ 97.2%.

Ngành học phổ thông đã tăng nhanh: Tiểu học 15.505 em; THCS 7.993 em; THPT 3.481 em (kể cả số học sinh THPT học ở các huyện thị khác trong tỉnh). Tỷ lệ bỏ học giảm mạnh, năm học 2000 - 2001 Tiẻu học có tỷ lệ bỏ học là 0.02%; THCS 0.38%; THPT 0.52%. Đặc biệt số học sinh đầu cấp đã huy động cao: 6 tuổi vào lớp 1: 98%; tốt nghiệp lớp 5 vào lớp 6 là 97%; tốt nghiệp lớp 9 vào THPT là 73.6%.

Bên cạnh các trường lớp phổ thông ngày càng phát triển, công tác giáo dục thường xuyên trên địa bàn củng được duy trì và củng cố vững chắc. Năm 1997 mở 4 lớp với tổng số 179 học viên, đến năm 2000- 2001 trung tâm huy động được 10 lớp với 416 học viên.

Tỷ lệ học sinh học nghề phổ thông ở lớp cuối cấp THCS và lớp 11 THPT cũng được huy động ngày càng tăng, năm học 2000 - 2001 đã huy động được 1680 em, chiếm tỷ lệ 70% số học sinh cuối cấp. trong 5 năm qua, có 4088 em học sinh dự thi nghề và có 3.977 em được cấp chứng chỉ.

 

·        Chất lượng, hiệu quả giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Chất lượng giáo dục Mầm non đã được nâng lên. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền kiến thức nuôi dạycon theo khoa học cho các bậc cha mẹ, công tác phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể như phụ nữ, y tế, UBBVCSTE nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tiến hành thường xuyên. Tổ chức trình diễn thức ăn hàng tháng; khám sức khoẻ định kỳ 2 lần/ năm; cân đo theo tháng, quý. . . Việc thực hiện đa dạng hoá các chương trình giáo dục và thực hiện chuyên đề giáo dục âm nhạc, làm quen chữ cái, hoạt động tạo hình, nâng cao chất lượng làm quen với toán . . . nên kết quả các môn học đạt chất lượng tốt. Năm hcọ 2000 - 2001 số cháu kênh A tăng lên 94%; NT là 85.6% và kênh C giảm còn 0.15%.

Chất lượng giáo dục phổ thông có nhiều chuyển biến rõ nét cả về đai trà và mũi nhộn.

Việc học tập của học sinh Tiểu học có nhiều tiến bộ. Việc giảng dạy của thầy đảm bảo đủ, đúng, chất lượng, dạy học theo hướng “ Tự nhiên hơn, nhẹ nhàng hơn”. Ngoài việc chú trọng dạy đại trà, các trường đã quan tâm chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi. Vì thế, tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi tăng cao, học sinh yếu kém đã hạn chế nhiều. Năm học 2000 - 2001 học sinh Tiểu học đạt loại giỏi là 18.95%, loại khá 30.79%, loại yếu còn 0.58%. Số học sinh giỏi tỉnh tăng lên 167 em. Trong 5 năm, toàn huyện có 269 học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, trong đó có 18 em đạt giải nhất. Tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp hàng năm đạt 100%.

Chất lượng giáo dục đạo đức học sinh THCS và THPT có tiến bộ, kỹ cương học đường giữ vững. Các đơn vị đã thông qua các chủ đề, chủ điểm hàng tháng để giáo dục đạo đức, truyền thống cho học sinh. Tổ chức tốt công tác Đoàn- Hội - Đội. Các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, được tổ chức thường xuyên, diễn ra đều khắp các vùng, miền; tất cả tạo nên môi trường sư phạm hấp dẫn, lành mạnh. Khối THPT trước đây ít có học sinh học lực giỏi, năm học 2000 - 2001 có 30 em, chiếm tỷ lệ 1.5%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS chiếm 98.7%( trong đó khá giỏi chiếm 44.6%), THPT tốt nghiệp 95%. Số học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh tăng nhanh. Bậc THCS từ chỗ có 12 em năm học 1996 - 1997 thì đến nay lên tới 48 em. Bậc THPT có 11 em

 

·        Công tác Phổ cập giáo dục:

Trong giai đoạn 1996 - 2000, huyện đã hoàn thành công tác CMC với tỷ lệ cao 99.8%. Từ 211 người còn mù chữ trong độ tuổi 15-35 năm 1996 dến năm 2000 còn lại 10 người, đạt tỷ lệ xoá mù trong 5 năm là 95.3%. Mỗi năm tổ chức được 1 lớp sau xoá mù chữ với số lượng và chất lượng cao.

Củng cố vững chắc phổ cập giáo dục Tiểu học 19/19 xã, thị trấn; chỉ đạo phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Năm 1996 có 1 đơn vị ( xã Triệu Đông) đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi thì đến năm 2000 có 5 đơn vị đạt chuẩn đó là Triệu Đông, Triệu Long, Triệu Tài, Triệu Trung và Triệu Hoà.

Phổ cập THCS theo chuẩn 7036 của Bộ GD & ĐT được 16/19 đơn vị, đạt 84%. Năm 1997 có 5 đơn vị: Triệu Đông, Triệu Long, Triệu Hoà, Triệu Thượng và Triệu Trung. Đến năm 2000 huyện được công nhận đạt chuẩn Quốc gia theo chuẩn 7036 và có 6 đơn vị đạt chuẩn mới là: Triệu Đông, Triệu Hoà, Triệu Độ, Triệu Tài, Triệu Đại, Và thị Trấn Ái Tử.

 

·        Về cơ sở vật chất:

Từ trước năm 1996 đại đa số phòng học, phòng làm việc là nhà cấp 4, xây dựng bằng vôi vữa, thời gian sử dụng gần 20 năm, có thể nói CSVC, thiết bị dạy học không phù hợp và đảm bảo cho việc dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động người học, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Đến tháng 8/1996, Đại hội giáo dục toàn huyện lần thứ nhất được triển khai và từ đó công tác xã hội hoá giáo dục được cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp quan tâm đúng mức. Trong năm năm qua, từ chỗ  toàn huyện mới có 6 trường cao tầng, đến nay, bằng các nguồn vốn của các chương trình dự án, của tỉnh, của huyện đã có 33 trường cao tầng, tổng giá trị gần 24 tỷ đồng. Cùng với việc xây dựng trường học, việc đầu tư trang thiết bị bên trong được chú ý. Bằng nguồn vốn xây dựng từ học sinh đóng góp, trong 5 năm đã đầu tư nâng cấp các phòng học, mua sắm bàn ghế, thiết bị dạy học, sách giáo khoa, sách tham khảo, trị giá gần 3.9 tỷ đồng. Nhân dân đóng góp gần 1.8 tỷ đồng, tu sửa, nâng cấp 276 phòng học và bổ sung thêm kinh phí xây dựng mới hàng trăm phòng học cấp 4, lớp học Mầm non. Học sinh đóng góp tiền xây dựng hàng năm là 800 triệu đồng, trong 5 năm xấp xỷ 4 tỷ đồng.

Phong trào xây dựng khuôn viên, cảnh quan sư phạm nhà trường đã được hầu hết các trường hưởng ứng, triển khai tích cực và mang lại hiệu quả. Từ những nơi khô cằn trên đất bom đạn, đến những miền cát trắng, trung du cheo loe, đâu đâu cũng háo hức, bền bỉ xây dựng cảnh quan nhằm làm cho nhà trường thực sự “ Xanh - Sạch - Đẹp”. Bằng sức lao động của thầy và trò, bằng sự nổ lực không mệt mỏi của toàn ngành, đến nay, tất cả các trường đầy cây xanh bóng mát; Cảnh quan, khuôn viên trường học đã xanh hoá; đường đi lối lại, sân trường trở nên quy cũ, đẹp mắt. Tiêu biểu như trường THCS Trung Tài, Đại Hoà, Triệu Long, Triệu Thuận, Triệu Phước, THPT Triệu Phong, Chu Văn An, Tiểu học Triệu Giang,Số 1 Triêu Long, Số 1 Triệu Thượng, Triệu Thành, Triệu Thuận.

·        Công tác xây dựng đội ngũ: Để thực hiện tốt nhiện vụ giáo dục, một trong những điều kiện có tình quyết định là người thầy- nguồn sức mạnh nội sinh của ngành GD- ĐT. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ đảm bảo về số lượng và chất lượng được các cấp quản lý, đảng uỷ, chính quyền địa phương hết sức quan tâm. Phòng GD Triệu Phong đã thường xuyên tổ chức cho cán bộ, giáo viên quán triệt nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, chỉ thị nhiệm vụ năm học của bộ GD-ĐT; luật giáo dục; các chuyên đề của Bộ, của Sở được triển khai nghiêm túc. Công tác chính trị tư tưởng, đời sống của giáo viên được huyện, ngành quan tâm. Nhiều khu tập thể giáo viên ở vùng biển, vùng núi được xây dựng. Công tác Đảng trong trường học được phát triển mạnh. Phong trào thi đua trong giáo viên được phát động thường xuyên, ý thức tự học, tự rèn, tự phấn đấu vươn lên nâng cao trình độ chuyên môn ngày càng được giáo viên tích cực hưởng ứng. Trong 5 năm qua, có 35 giáo viên theo học Đại học, 28 giáo viên học Cao đẳng, 29 giáo viên học THSP, 145 giáo viên Mầm non được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Có 213 giáo viên Tiểu học dạy giỏi cấp huyện, 43 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh.118  giáo viên THCS dạy giỏi cấp huyện, 32 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. 107 giáo viên Mầm non được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Năm học 1997 có 12 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đến năm 2000 có 57 giáo viên ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng, nâng tổng số đảng viên trong toàn ngành lên 231 đồng chí, chiếm 21% tổng số CBGV trong huyện. Đặc biệt đồng chí Nguyễn Hữu Quang- trưởng phòng GD-ĐT Triệu Phong được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

·        Phong trào xây dựng đơn vị chuẩn Quốc gia bậc tiểu học được triển khai tích cực. Hàng năm kế hoạch xây dựng trường chuẩn Quốc gia được triển khai cụ thể, có một chuyên viên phòng phụ trách công tác này. Hàng năm, phòng tổ chức cho cán bộ quản lý các trường nằm trong quy hoạch xây dựng trường chuẩn đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm xây dựng trường chuẩn Quốc gia của các huyện, tỉnh bạn. Trường Tiểu học Triệu Đông, Triệu Trung, Triệu Thành, Triệu Thuận, Triệu Giang, Số 1 Triệu Long, Số 1 Triệu Phước đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực này và được Bộ GD-ĐT công nhận đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1996-2000. Đây là một trong những đơn vị trường sớm nhất của huyện, tỉnh được Bộ công nhận. Những năm tiếp theo có thêm các đơn vị: Tiểu học Số 1 Triệu Hoà, Số 1 Triệu Thượng, Thị Trấn Aí tử, số 2 Triệu Phước, số 2 Triệu An, Triệu Lăng, Số 1 Triệu Độ, Triệu Đại. Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trường Mầm non Trung Tâm, Mầm non Triệu Trung.

·        Công tác quản lý chỉ đạo và phong trào xã hội hoá giáo dục có nhiều cải tổ tích cực và phát triển sâu rộng. Trên cơ sở chương trình hành động thực hiện NQ TW2 (khoá VIII) và các văn bản hưỡng dẫn của cấp trên, UBND, các đoàn thể và đội ngũ quản lý giáo dục từ Phòng đến trường đã có những biện pháp chỉ đạo sâu sát; tăng cường công tác thanh kiểm tra; đi về cơ sở; tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa trên và dưới; kịp thời giải quyết thông tin, công việc. Thời gian này, công tác xã hội hoá giáo dục ở Triệu Phong đã trở thành phong trào rầm rộ, trở thành cuộc vận động lớn trong các tầng lớp nhânn dân và tổ chức kinh tế - xã hội. Công tác xã hội hoá đã đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực như vận động học sinh bỏ học trở lại lớp, quản lý giáo dục học sinh, chăm lo xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất nhà trường, chăm lo đời sống giáo viên, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Công tác chăm sóc trẻ khuyết tật, trẻ lang thang cơ nhỡ, học sinh nghèo... đã được toàn ngành, toàn xã hội quan tâm. Hầu hết các đơn vị cơ quan, trường học, thôn xóm, khóm phố và một số dòng họ đều quyên góp quỹ vì người nghèo, trẻ em nghèo, quỹ khuyến dạy, khuyến học.

Cuộc vận động xây dựng đơn vị văn hoá, gia đình văn hoá trở thành nét đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân, trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ, tích cực trong toàn ngành. Từ các đơn vị Mầm non đến THPT đều hăng hái tham gia. Đến năm 2000, toàn huyện có 29 đơn vị trường học đã phát động tham gia xây dựng đơn vị văn hoá cơ sở. Phong trào xây dựng đơn vị văn hoá đã có tác động sâu sắc trong việc xây dựng môi trường giáo dục. Giáo viên và học sinh thi đua thực hiện những quy ước về con người văn hoá, gia đình văn hoá, đơn vị văn hoá. Đó cũng là một trong những mục tiểu của Đảng và nhà nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho xã hộ ngày một văn minh tiến bộ. Từ sau Đại hội Giáo dục huyện lần thứ nhất (tháng 8/1996) đến nay, phong trào thành lập hội khuyến học và xây dựng quỹ khuyến học ở cơ sở xã, thôn, học tộc đã có những chuyển biến đáng kể. Có 9 Hội khuyến học cấp xã, 58 hội khuyến học thôn, 5 hội khuyến học họ tộc, với tổng số quỹ huy động 5 năm là 450.093.000 đồng. Tính cả quỹ khuyến học trong các trường TH, THCS, THPT thì số quỹ lên đến 1.044.000 đồng. Nhiều xã đã vận dụng sức mạnh tổng hợp để làm tốt công tác trên như: Triệu Tài, Triệu Trung, Triệu Thượng, Triệu Đông, Triệu Sơn, Triệu Hoà, Triệu Trạch. Ngành GD-ĐT đã vận động trong CBGV ủng hộ một ngày lương trong năm 1998 là 10.000.000 đồng và các cơ quan ban ngành trong tỉnh, huyện ủng hộ gần 12 triệu đồng.

Giai đoạn này, quỹ khuyến học huy động được chủ yếu chi làm phần thưởng cho học sinh đạt các danh hiệu: Học sinh giỏi toàn diện, học sinh giỏi văn hoá các cấp, học sinh thi đỗ vào Đại học. Chính tác động của Hội khuyến học mà phong trào thi đua học tập, rèn luyện trong học sinh càng được nâng cao; số học sinh giỏi toàn diện, số học sinh đỗ vào các trường Đại học nhiều hơn so với trước đây.

Có thể nói GD - ĐT Triệu Phong giai đoạn 1996 - 2000 đã từng bước được củng cố và phát triển vững chắc cả về số lượng lẫn chất lượng. Hầu hết trẻ trong độ tuổi đều được đến trường. Chất lượng đào tạo đạt được những đỉnh cao mới trên mọi lĩnh vực như học sinh giỏi văn hoá, giỏi nghề phổ thông, giỏi giải toán bằng máy tính bỏ túi, giỏi TDTT; giỏi dang trong lao động sản xuất, hường nghiệp dạy nghề; giỏi trong kỹ năng và thực hành, ứng dụng các công nghệ thông tin; kỹ năng sống - học tập - rèn luyện. Môi trường giáo dục ngày càng lành mạnh, càng ngày càng “ Xanh - Sạch - Đẹp”; kỷ cương học đường được củng cố. Đội ngũ cán bộ, giáo viên tiến dần đến chuẩn hoá. Cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư theo hướng “Kiên cố hoá, hiên đại hoá, cao tầng hoá”; tạo được thế và lực cho giáo dục - đào tạo Triệu Phong vững bước tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới. Tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân về sự nghiệp “ trồng người” trên quê hương Triệu Phong.

 

 

Năm 2000- một thế kỷ mới mở ra. Lịch sử nhân loại sang trang. Đất nước ta tiếp tục trên con đường đổi mới một cách toàn diện, xây dựng một nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn nhằm tiến tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Năm 2000- một thế kỷ của nền kinh tế tri thứ. Đảng và nhà nước ta coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.       Ngày 20 tháng 10 năm 2000, Đại hội đại biểu huyện Đảng bộ Triệu Phong khai mạc. Nghị quyết của Đại hội nêu rõ: “Tiếp tục thực hiện tốt nghị quyết TW 2 (Khoá VIII) về giáo dục và đào tạo. Hoàn chỉnh quy hoạch, phát triển mạng lưới trường học; xây dựng thêm 2 trường Trung học phổ thông. Thực hiện phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi. Đến năm 2002, hoàn thành phổ cập THCS; tăng tỷ lệ học sinh vào THPT. Nâng cao chất lượng dạy và học. Tăng số lượng học sinh giỏi cấp tỉnh và Quốc gia. Đầu tư xây dựng điển hình tiên tiến trong giáo dục để rút kinh nghiệm, mở rộng.Kiên cố và cao tầng hoá trường học. Phấn đấu 1/3 số trường đạt chuẩn Quốc gia. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho ngành học Mầm non. Đẩy mạnh phong trào xã hội hoá giáo dục”(1).

Quán triệt tinh thần Nghị quyết huyện Đảng bộ lần thứ XV, ngành Giáo dục đào tạo Triệu Phong trong những năm đầu của thế kỷ tiếp tục điều chỉnh, sắp xếp và phát triển theo hướng “ Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”.

Ngày 04 tháng 11 năm 2001 Đại hội Giáo dục huyện lần thứ hai khai mạc đã đánh giá đúng thực trạng, xác định những vấn đề tồn tại, bức xúc cần giải quyêt về công tác giáo dục trong thời gian qua; đề ra kế hoạch phát triển GD-ĐT giai đoạn 2000 - 2005. Đại hội đã thông qua 4 đề án phát triển quan trọng.

-         Đề án Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học.

-         Đề án Phổ cập GDTH đúng độ tuổi và phổ cập THCS.

-         Đề án Xây dựng đội ngũ.

-         Đề án Về công tác khuyến học.

Nhằm phát huy phong trào khuyến học theo phương châm “ Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội”; quán triệt chỉ thị 50/CT-TƯ ngày 24 tháng 8 năm 1999 của Bộ chính trị (khoá VIII), Chỉ thị 12/ CT-TƯ ngày 19 tháng 2 năm 2002 của Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội khuyến học Quảng Trị”, UBND huyện Triệu Phong đã có quyết định số 210/ QĐ-UB ngày 23/5/2002 thành lập Hội khuyến học do đồng chí Lê Vũ Bằng- Tỉnh uỷ viên - Bí thư huyện uỷ- Chủ tịch Hội động nhân dân làm chủ tịch. BCH hội gồm có 25 thành viên là đại diện của tất cả các ban ngành, đoàn thể cấp huyện và các cán bộ cốt cán của Phòng giáo dục.

Tại xã, thị trấn, các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã quyết tâm chỉ đạo mọi hoạt động của công tác khuyến học cơ sở, đẩy mạnh việc xây dựng các tổ chức khuyến học trong cộng đồng dân cư, họ tộc, thôn xóm...

 
 
 


(1)   Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Triệu phong lần thứ XV, nhiệm kỳ 2000-2005 tr.40, tháng 2 năm 2001.

Từ ngày thành lập đến nay, Hội khuyến học Triệu Phong đã tổ chức hoạt động sôi nổi và mang lại những kết quả bước đầu quan trọng, tạo thuận lợi cho việc hỗ trợ phát triển giáo dục ở địa phương. Trong 4 năm, từ tháng 5/ 2000 đến tháng 5/2003, Hội khuyến học đã trao 13 xe đạp cho 13 học sinh nghèo vượt khó; tổ chức đỡ đầu dài hạn

cho 72 học sinh với mưc 100.000 đồng/tháng, xây dựng được một “Mái ấm khuyến học”, tạo điều kiện cho con em được tiếp tục tham gia học tập lâu dài. Hàng năm, Hội tổ chức trao thưởng, động viên nhiều học sinh giỏi, có thành tích trong học tập với số tiền 3.000.000 đồng/ năm.

Hội phụ nữ huyện cũng thường xuyên phối hợp với ngành  giáo dục tổ chức các hoạt động nhằm giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như: giúp đỡ sách vở, dụng cụ học tập, quần áo . . . Từ năm 2002 đến năm 2005, Hội phụ nữ huyện và các trừơng học trong toàn huyện đã vận động được 475 học sinh có hoàn cảnh khó khăn bỏ học trở lại trường; giúp 811 trẻ em nghèo với tổng số tiền lên đến 128.471.000 đồng. Vận động được tổ chức “ Trẻ em trên hết” trao 156 suất học bổng trị giá 500.000 đồng/ suất cho học sinh thuộc vùng khó khăn. Riêng năm học 2005 - 2006, Hội phụ nữ huyện đã trao 39 suất học bổng trị giá 500.000 đòng/ suất cho học sinh nghèo.

Trong những năm qua, công tác phát triển Hội ở Triệu Phong không ngừng được mở rộng trên các địa bàn xã, thị trấn: 19/19 xã, thị trấn có Hội, đạt tỷ lệ 100%. Chi hội các trường học đã không ngừng phát triển, toàn huyện có 50/63 trường có Chi hội khuyến học. Tổng số tổ chức Chi hội khuyến học là 271 (Chi hội thôn, khu phố: 124; chi hội cơ quan: 7; chi hội trường học: 50; dòng họ khuyến học: 81). Tổng số hội viên là 33.163 người. Các cấp hội đã có nhiều giải pháp sáng tạo để xây dựng nguồn quỹ, có nhiều hoạt động tích cực như chi hội khuyến học thôn An Lợi (Triệu Độ); Đạo Đầu, Ngô Xá Đông, Ngô Xá Tây (Triệu Trung); Hà My (Triệu Hoà), Hậu Kiên (Triệu Thành), Hà Xá (Triệu Ái). Các dòng họ duy trì tốt phong trào khuyến học như họ Nguyễn (thôn An Trú- Triệu Tài), họ Lê Bá ( thôn Bích La- Triệu Đông), họ Phan (thôn Hà My -Triệu Hoà), họ Phan ( Triệu Ái), họ Nguyễn Đức (thôn Việt Yên- Triệu Phước), họ Cao (Triệu Giang), họ Phan ( Triệu Hoà), họ Võ (Triệu Thuận), họ Đoàn (Triệu Thành), họ Trần (  An Đôn,Triệu Thượng).

Về xây dựng và phát triển các hình thức học tập cộng đồng cũng có những kết quả bước đầu đáng phấn khởi. Hiện nay, toàn huyện có 65 trung tâm học tập cộng đồng ( Trong đó trung tâm học tập cộng đồng gắn với xã, thị trấn là 07; gắn với thôn, tiểu khu là 37; gắn với HTX là 24). Số lớp đã mở là 219 lớp với hơn 10.168 lượt người tham gia học tập. Nội dung học tập bao gồm: Học tập Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, luật bầu cử, an toàn giao thông, về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, học vi tính, tiếng Anh. . .

Nhận thức rõ ý nghĩa việc “ Xây dựng gia đình hiếu học” là yếu tố cơ bản để xây dựng một xã hội học tập, do đó các cấp hội đã không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu các tiêu chí cụ thể của tỉnh hội về xây dựng “Gia đình hiếu học”; “Dòng họ khuyến học”; “Cộng đồng, làng xã khuyến học” để phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Hiện đã có 15/19 xã, thị trấn đã tiến hành mở Hội nghị  “Gia đình hiếu học”. Các Hội khuyến học cấp xã đã tổ chức đăng ký, xét chọn “Gia đình hiếu học” một cách nghiêm túc theo 3 tiêu chí. Tổng số gia đình hiếu học đạt 3 tiêu chi là 10.252/16.373 gia đình. Qua phong trào này đã xuất hiện nhiều gia đình hiếu học, tiêu biểu như gia đình ông Nguyễn Chơn Thạch, Nguyễn Quang Tiến, Nguyễn Khánh, Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Xê và bà Nguyễn Thị Luông (xã Triệu Trung); Gia đình ông Phan Á, Phan Văn Lý, Phan Văn Phúc (Nhan Biều, Triệu Thượng); Năm học 2005 - 2006, huyện Triệu Phong đã chọn bà Hồ Thị Điu ở xã Triệu Lăng đi dự Hội nghị “Gia đình hiếu học” Toàn quốc.

Tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, quán triệt tinh thần kết lụân của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành  TW Đảng khoá IX, nghị quyết 40, 41/QH 10, quyết định 159, 161/ QĐ -TTg của Thủ tường Chính phủ và của ngành, các chỉ thị 34, 38, 25 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành trong các năm học từ 2002 đến 2005; các Nghị quyết của tỉnh, huyện đảng bộ, thời gian vừa qua, Giáo dục huyện Triệu Phong không ngừng lớn mạnh về mọi mặt:

 

·         Ngành học Mầm non

-      Năm học 2002 - 2003, với quyết tâm cao, Phòng đã chỉ đạo các đơn vị điều tra số trẻ trong độ tuổi và tiến hành giao chỉ tiêu huy động cho từng giáo viên, từng cơ sở trong toàn huyện một cách cụ thể. Phối hợp với hội viên Hội phụ nữ thành lập các nhóm trẻ gia đinh, động viên trẻ 3-4 tuổi đến lớp. Công tác tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học được triển khai đến tận mỗi phụ huynh học sinh trong từng buổi họp, qua các câu lạc bộ không sinh com thứ 3, câu lạc bộ không có trẻ suy dinh dưỡng. Số trẻ 0-2 tuổi huy động đến lớp là 484/4.330 cháu đạt tỷ lệ 11,1% tăng so với năm trước 0,1%. Số cháu 3-5 tuổi huy động đến lớp 4.222/6.182 đạt tỷ lệ 68,2%, tăng so với năm trước 1,2%.

-      Năm học 2003 - 2004, nhờ tác động tích cực của việc thực hiện chuyên đề nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, số trẻ được ăn bữa trưa, bữa phụ trong các trường Mầm non được tăng lên. Các hình thức tuyên truyền về chuyên đề thông qua các hội thi “Bé tập làm nội trợ”, “Gia đình dinh dưỡng” đem lại hiệu quả thiết thực. Ngành thường xuyên kết hợp với cơ quan Y tế tổ chức khám định kỳ, tiêm chủng, uống vitamin A và thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Kết quả về chăm sóc nuôi dưỡng diện điểm-Nhà trẻ: KA 98,4%, KB 1,6%; Mẫu giáo: KA 96,4%, KB 3,6%. Diện đại trà: Nhà trẻ: KA 92,6%, KB 7,4%; Mẫu giáo: KA 71,2%, KB 28,0%, KC 0,8%.

Thông qua dự án “Phát triển trẻ thơ toàn diện”, Phòng giáo dục đã tiến hành bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên về phương pháp đổi mới hình thức giáo dục, hướng dẫn làm đồ dùng đồ chơi, một số về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Đặc biệt, ngày 15/4/2004, Trường Mầm non Trung Tâm huyện vinh dự được Bộ GD-ĐT công nhận đơn vị Trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia, đây là đơn vị đầu tiên của huyện về ngành học mầm non được đạt chuẩn Quốc gia.

-      Năm học 2004-2005, ngành đã hoàn thành đề án phát triển GDMN, Đề án 161 trình UBND huyện. Phòng đã đầu tư CSVC để xây dựng trường Mầm non Triệu Trung đạt chuẩn Quốc gia. Tham mưu xây dựng CSVC theo các nguồn 159, tổ chức Tầm nhìn Thế giới, DOVE PULL. Thực hiện thông tư 05/TTLB chuyển các trường Mầm non dân lập sang trường MN bán công (hiện có 1 trường công lập, 19 trừng bán công). Có cơ chế lương tối thiẻu cho giáo viên : 290.000 đồng/ tháng.Thực hiện đổi mới chương trình chăm sóc giáo dục trẻ, đổi mới hình thức dạy học. Tổng số trẻ huy động: 4637/10435, tỷ lệ 44,43%. Trẻ 5 tuổi: 1902/1914, tỷ lệ 99,9% tăng hơn so với năm trước 0,7%.

 

·        Giáo dục tiẻu học:

Năm học 2002-2003, phòng GD đã chỉ đạo các trường thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua từng chủ đề, chủ điểm. Việc kết hợp giữa nhà trường- gia đình và xã hội được thực hiện theo quy ước của hội đồng giáo dục huyện một cách triệt để. Hoạt động dạy và học được đổi mới, đem lại hiệu quả cao. chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông được ngành triển khai một cách nghiêm túc đến tận cán bộ quản lý, giáo viên trong toàn ngành. Phong trào thi đua dạy tốt - học tốt như thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi, thi hồ sơ tốt . . . được phát động liên tục. Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 98,5%. Duy trì sĩ số đạt 100%. Tỷ lệ lên lớp đạt 100%. Có 18/27 đơn vị tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ ngày. Chất lượng giáo dục hai mặt có tiến bộ: Học lực giỏi có 1626 em, tỷ lệ 13,1%; khá: 4.297 em, tỷ lệ: 39,7%. Học sinh có hạnh kiểm tốt: 10.700 em, tỷ lệ 24,48%; khá tốt: 1626 em, tỷ lệ 13,19%. Có 139 học sinh đạt giải cấp huyện; 135 em đạt giat cấp tỉnh ( Trong đó: 21 giải nhất, 36 giải nhì và 57 giải ba).

Năm học 2003 - 2004, công tác kiểm tra đánh giá kết quả Phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi được tiếp tục thực hiện nghiêm túc. Năm 2003 có 17/19 xã được công nhận đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi, nâng tỷ lệ đạt chuẩn của huyện lên tới 89,5%. Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,5% so với tổng số trong xã hội. Duy trì sĩ số đạt 100%. Tỷ lệ lên lớp đạt 100%. Số trẻ ở độ tuổi 11-14 tuổi có bằng tốt nghiệp Tiểu học đạt trên 95,5%. 100% trường dạy đủ 9 môn học, có 2 trường dạy thêm ngoại ngữ, 18/27 đơn vị tổ chức một số lớp học 2 buổi/ ngày. Có 180 học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp huyện, 160 học sinh đạt giải tỉnh.

Năm học 2004 - 2005, nhờ có nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ như làm tốt công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; coi trọng công tác chỉ đạo dạy và học; đầu tư xây dựng cảnh quan sư phạm; đầu tư trang thiết bị, giúp đỡ học sinh gia đình khó khăn, gia đình chính sách nên chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc Tiểu học tiếp tục phát triển ổn định và vững chắc. Các hoạt động của Đoàn thanh niên, Đội, Sao nhi đồng đi vào chiều sâu như “Giúp đỡ bạn nghèo học giỏi”, “Phong trào áo lụa tặng bà”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng” . . . Ngành cùng với tất cả các đơn vị trường học tích cực chỉ đạo mạnh mẽ đổi mới giáo dục phổ thông; đẩy mạnh việc tổ chức dạy và học có chất lượng ở tất cả các khối lớp. Có 258 học sinh giỏi cấp huyện, 59 học sinh giỏi cấp tỉnh (trong đó có 9 giải nhất, 16 giải nhì). Số học sinh giải nhất của huyện Triệu Phong chiếm hơn 1/4 tổng số giải nhất của toàn tỉnh.

 

·        Giáo dục Trung học:

Năm học 2003 – 2004, UBND tỉnh Quảng Trị có quyết định thành lập Trường THPT Vĩnh Định do đồng chí Lê Văn Ích- nguyên Phó trưởng phòng GD Triệu Phong làm hiệu trưởng; tạo thêm nhiều cơ hội để con em theo học. Nhờ đó, hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tuyển vào bậc THPT đạt khá, năm học 2004 - 2005 tỷ lệ này đạt trên 73%.

Ngày 13 tháng 10 năm 2004, UBND huyện Triệu Phong có quyết định số 636/QĐ-UB về việc thành lập trường THCS Triệu Hoà do đồng chí Hoàng Thị Bình- nguyên Phó hiệu trưởng trường THCS Triệu Đại làm hiệu trưởng.

Ngày 22 tháng 8 năm 2005, UBND huyện Triệu Phong có Quyết định số 637/QĐ-UB về việc thành lập trường THCS Triệu Giang do đồng chí Nguyễn Xuân Búa- nguyên Phó hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm làm hiệu trưởng.

Năm năm qua (2000-2005), giáo dục Trung học có những bước đi vững chắc, thu được những kết quả đáng trân trọng.

-      Năm học 2002-2003, tỷ lệ huy động vào lớp 6 đạt trên 98%. Có 177 học sinh đạt giải cấp huyện, 61 học sinh đạt giải cấp tỉnh (trong đó có 9 giải nhất, 21 giải nhì). Tỷ lệ tốt nghiệp THCS toàn huyện đạt 99,35%.

-      Năm học 2003 - 2004, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 99,7%. Có 123 học sinh đạt giải cấp huyện, 69 học sinh đạt giải cấp tỉnh (trong đó có 8 giải nhất, 19 giải nhì, 23 giải ba).

-      Năm học 2004 -2005, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 98,09%, có 69 học sinh đạt giải cấp tỉnh (trong đó có 4 giải nhất, 16 giải nhì, 32 giải ba). Tỷ lệ học sinh bỏ học ở bậc THCS thấp (0,3%).

·        Giáo dục chuyên nghiệp và thường xuyên: Giáo dục Triệu Phong đã tập trung tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học theo hướng: kiên cố hoá, hiện đại hoá; tranh thủ mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả các nguồn vốn. Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác tham mưu và tranh thủ tốt sự đầu tư của các tổ chức xã hội, chương trình, dự án; việc huy động được các nguồn lực cho nên cơ sở vật chất trường học trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực. Nhiều công trình cao tầng mới được xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả, nhiều trang thiết bị dạy học được bổ sung, tăng cường cho các cấp học, ngành học. Đến nay, có 26/27 trường tiểu học cao tầng (còn lại 1 trường đã được khảo sát và thi công vào năm 2006); 16/16 trường trung học cơ sở đều cao tầng; 1/20 trường Mầm non cao tầng. Nhiều trường có 2 nhà cao tầng. 100% trường có kế hoạch xây dựng nhà trường Xanh- Sạch - Đẹp.

Việc triển khai các  chương trình và ứng dụng công nghệ thông tin vào cồn tác quản lý dạy và học được thực hiện rộng rãi, kịp thời, hiệu quả. Đã tổ chức việc dạy, thi và cấp chứng chỉ A,B,C cho cán bộ giáo viên, học sinh trên địa bàn dân cư. Có 5 cụm đã tiến hành tổ chức mở lớp, cấp chứng chỉ A tin học cho 202 học viên. Thành lập được các câu lạc bộ tin học theo hướng dẫn của công văn số 727/GD-ĐT ngày 20/09/2004. Hàng tháng, các trường có máy tính đang hoạt động và có nối mạng đều báo cáo về Phòng Giáo dục những thông tin cần thiết. Đến nay 100% trường THPT, THCS có máy tính, 5 cơ sở có đủ máy tính để dạy. Nhiều trường Tiểu học, Mầm non đã tích cực đầu tư mua máy tính để phục vụ công tác văn phòng.

Việc triển khai công nghệ thông tin trường học là một bước quan trọng để cho toàn thể cán bộ-giáo viên trong ngành tiếp cận với máy tính và bước đầu phổ cập sử dụng máy tính cho CB-GV.

Triệu Phong năm năm qua đã củng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ, tăng tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi hàng năm đạt trên 99,5%. Đến năm 2004, có 18/19 xã đạt chuẩn về PCGDTH đứng độ tuổi, tỷ lệ 94,7%. Toàn huyện đã huy động 2.204 trẻ 6 tuổi đến trường, chiếm tỷ lệ 99,9%. Số trẻ em 11 tuổi có bằng tốt nghiệp Tiểu học là 2.695, đạt tỷ lệ 89,62%.

Với sự tham mưu tích cho Huyện uỷ, UBND huyện; sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành liên quan, sự chỉ đạo sâu sát của Phòng GD đã tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ về công tác PCGDTHCS. Năm 2003, Triệu Phong là huyện đầu tiên của tỉnh được công nhận đạt chuẩn PCTHCS. Năm 2005, có 100% số xã , thị trấn đạt chuẩn PCTHCS và PCGDTH đúng độ tuổi. Số đối tượng 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp là 6.735, đạt tỷ lệ 86,1%. Các xã có tỷ lệ cao như: Triệu Giang (88,8%); Triệu Long (92,4%); Triệu Đông (89,01%); Triệu Trung (90,2%); Triệu Tài (91,3%); Triệu Hoà (88,7%); Triệu Sơn (90,2%)…

Huyện Triệu Phong là đơn vị đầu tiên trong tỉnh Quảng Trị đã đưa tin học vào ứng dụng trong việc lập phần mềm quản lý số liệu Phổ cập và triển khai đại trà trên toàn huyện. Đây là một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, cần thiết vì đã giúp các đơn vị quản lý số liệu Phổ cập một cách chính xác, khoa học, hiện đại. Phòng đã có nhiều biện pháp và giải pháp để chỉ đạo, triển khai công tác Phổ cập một cách quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả cao; được Sở GD-ĐT Quảng Trị công nhận là đơn vị dẫn đầu về công tác Phổ cập.

Ngành tiến hàng tổ chức nhiều hội thi, hội thảo, chuyên đề về chuyên môn nhằm bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên ở các bậc học, ngành học. Triển khai nghiên cứu chương trình và SGK mới ở Tiểu học, THCS và BT THCS.

Triển khai bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu kỳ 2003-2007. Hàng năm, tổ chức tốt hội thi giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh; giáo viên-tổng phụ trách Đội giỏi các cấp…Số giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh hàng năm đạt từ 40 đén 45 người ở các cấp học, ngành học. Năm học 2004-2005, toàn huyện có 50 GV đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, khối Mầm non có 8, Tiểu học 21, THCS 16 , khối trực thuộc có 5 người. Năm học 2003-2004 có 1 giáo viên Tiểu học đạt giải 3 Hội thi “Giáo viên dạy giỏi cấp Quốc gia”: Cô giáo Nguyễn Thị Hồng- trường Tiểu học Thị trấn Ái Tử.

 

* Giáo dục dân tộc:

Để tạo điều kiện cho học sinh ở các vùng khó khăn, toàn ngành GD đã có nhiều biện pháp tích cực, chính sách phù hợp nhằm động viên, giúp đỡ các em có điều kiện đến trường. Nhiều phong trào giúp nhau vượt khó được phát động: “Quỹ vì học sinh nghèo”; “Quỹ tình thương”; “Quỹ vì trẻ em vùng khó”... đã trở thành một nét đẹp văn hoá,  mang tính nhân văn cao quý trong nhà trường. Đến nay, 100% các thôn ở Trấm, Triệu Vân, Triệu An, Triệu Lăng đều có lớp Mẫu giáo.

Phòng GD huyện có chủ trương mở các lớp Bổ túc văn hoá để cho những đối tượng đang học lớp 8 và lớp 9 phổ thông lớn tuổi có nguyện vọng học nghề sau khi đã tốt ghiệp Bổ túc THCS. Hưởng ứng cuộc vận động  ủng hộ học sinh vùng dân tộc ít người ở Hướng Hoá, toàn ngành đã tổ chức các cuộc vận động quyên góp trong giáo viên, học sinh, đã thu được hàng chục triệu đồng để ủng hộ các em học sinh dân tộc. Trong đợt kêu gọi tăng cường giáo viên làm công tác phổ cập giáo dục THCS, ngành GD Triệu Phong đã cử 2 đồng chí giáo viên đến tận xã Hướng Sơn để phục vụ. Hiện nay, phòng Giáo dục cùng với các trường trên địa bàn phát động ủng hộ giáo viên, học sinh miền núi bình quân 40.000 đồng/giáo viên.

 

* Công tác xây dựng đội ngũ, cơ sở vật chất:

Thời gian này, công tác xây dựng đội ngũ có những chuyển biến tích cực rất đáng phấn khởi. Trước hết là lãnh đạo ngành đã làm tốt công tác tham mưu với UBND huyện về việc bổ nhiệm cán bộ quản lý. Ngày   /  7  / 2004 UBND huyện Triệu Phong có quyết định số...../QĐ-UB về việc bổ nhiệm ông Lê Hữu Các giữ chức Trưởng phòng GD-ĐT Triệu Phong thay ông Nguyễn Hữu Quang- Trưởng phòng nghỉ chế độ. Đến năm 2005, cơ bản các đơn vị giáo dục trên phạm vi toàn huyện có đủ số lượng cán bộ quản lý theo tiêu chuẩn hạng trường, tạo điều kiện cho cơ sở làm tốt công tác quản lý nhà nước, một yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Hàng năm, lãnh đạo ngành đã có kế hoạch xin thêm từ 20 đến 30 giáo viên đối với các loại hình còn thiếu như Anh văn, Nhạc, Hoạ, Tin đồng thời giải quyết nghỉ hưu đúng chế độ. Điểm đáng ghi nhận về công tác đội ngũ trong những năm qua là sự trưởng thành về mặt nhận thức, lối sống, tư tưởng chính trị, tinh thần học hỏi, vươn lên của đội ngũ.

Năm học 2005 toàn ngành có 350 Đảng viên, chiếm tỷ lệ 28%, số lượng Chi bộ 41/42 đơn vị trường học.

- Bậc Tiểu học: có 690 cán bộ giáo viên trong đó: Đại học: 59; CĐSP: 101; THSP: 12+2:502; dưới THSP: 16. Đảm bảo tỷ lệ giáo viên/ lớp theo quy định. Tỷ lệ CB-GV có trình độ trên chuẩn: 23,19%

-         Bậc THCS: 100% CBQL các trường đã qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý. Đội ngũ GV đảm bảo đồng bộ các môn. Số giáo viên đạt chuẩn: 499 người, đạt tỷ lệ 97,27%. Số GV trên chuẩn: 189 người, đạt tỷ lệ 36,84%

-         THPT đạt chuẩn 90,1%

-         Mầm non: có 78 giáo viên, trong đó hợp đồng : 5

Đời sống giáo viên có những bước cải thiện đáng kể. Các đơn vị trường học đều có từ 1 đến 3 số báo đọc hàng ngày. Những hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT trong trường học thực sự sôi nổi, hào hứng. Các Hội thi “Tiếng hát học đường”, “Âm vang Điện Biên”; “Giáo viên thanh lịch”;...Hội diễn văn nghệ, thi TDTT...đã khơi dậy tiềm năng sáng tạo, lòng nhiệt tình, say mê của đội ngũ,góp phần tạo không khí trong sáng, lành mạnh trong toàn ngành. Chưa có lúc nào lực lượng cán bộ giáo viên nhiệt tình tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT như những năm qua. Nhiều trường như THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Triệu Đông, THCS Triệu Sơn, PTTH Triệu Phong, Mầm non Trung tâm, Mầm non Triệu Trung, Tiểu học Triệu Lăng là những đơn vị tổ chức tốt hoạt động này. Đời sống vật chất của đội ngũ cũng được nâng lên một bước. Chế độ lương, phụ cấp lương được ngành giải quyết đầy đủ, kịp thời. Hàng năm có từ 300 đến 450 người được nâng lương. Các chế độ ốm đau, thai sản, phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút cho giáo viên vùng khó, đến công tác phí, làm thêm ngoài giờ... được thanh toán kịp thời, đúng chế độ. Hầu hết các trường đã tổ chức cho cán bộ, giáo viên đi tham quan du lịch các danh lam thắng cảnh, các đơn vị điển hình tiên tiến của ngành ở phía Bắc, phía Nam. Đến năm 2005, cơ bản cán bộ giáo viên toàn ngành có mức sống ổn định.

Cùng với đội ngũ, cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố không thể thiếu được của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thời gian qua, công tác này phát triển với tốc độ nhanh nhất từ trước tới nay. Bằng việc huy động các nguồn vốn: vốn địa phương, sự đóng góp của nhân dân; các chương trình dự án của quốc gia như 159; các chương trình tài trợ kinh tế như ODA, tổ chức phi chính phủ, chương trình Tầm nhìn thế giới, Phát triển trẻ thơ toàn diện; với sự điều hành linh hoạt, sáng tạo của Ban dự án Cao tầng hoá của huyện, hàng năm có từ 5 đến 7 trường cao tầng và hàng chục hạng mục công trình khác được khởi công xây dựng, nhiều khuôn viên, vườn trường, cổng trường...đã quy hoạch đẹp, khang trang. đến năm 2005, 100% trường học trên địa bàn xã, thị trấn đã có trường cao tầng, 100% phòng học đủ chỗ ngồi cho học sinh. Tổng giá trị tài sản của hệ thống trường học huyện Triệu Phong là 45 tỷ đồng, vượt so với các năm trước khoảng 1,6 lần. (Từ năm 2000 đến năm 2002 tổng giá trị tài sản tương đương 28 tỷ đồng). Cùng với việc đầu tư cho dạy và học, công tác tài chính còn huy động quỹ của cơ sở và Phòng giáo dục mua 20 bộ máy vi tính trang bị cho công tác hành chính của trường với tổng giá trị 280 triệu đồng.

Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia đã được phòng và các trường quyết tâm thực hiện.Chỉ trong hai năm đã xây dựng và được công nhận 2 trường Mầm non, 2 trường Tiểu học, 1 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia. Đến nay, toàn huyện đã có 16 trường Tiểu học, 2 trường Mầm non, 1 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia. Năm học 2005-2006, toàn ngành đang quyết tâm phấn đấu để đạt thêm 7 trường đạt chuẩn Quốc gia (Trong đó Mầm non 1; Tiểu học 4; THCS 2).

 

* Công tác sách và thiết bị trường học:

Năm học 2004-2005 là năm thứ 3 về đổi mới chương trình SGK và trang cấp thiết bị dạy học cho các lớp thay sách. Để đáp ứng nhu cầu cho việc thay sách, ngoài kinh phí của Tỉnh, Sở, Phòng GD Triệu Phong đã đầu tư 86 triệu đồng cho việc thay sách giáo khoa; sách dành cho xây dựng thư viện chuẩn 01, thư viện tiên tiến và phòng thực hành chuẩn, thư viện chuẩn 01 cho từng năm học. Kinh phí đầu tư được đặt ra cụ thể. Ngoài đầu tư trực tiếp, Phòng còn chỉ đạo các đơn vị tham mưu với chính quyền các cấp, hội phụ huynh, các nhà hảo tâm để đầu tư tiền, vật chất...tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường học. Thực hiện kế hoạch mua sắm, cung ứng kịp thời, đầy đủ, có chất lượng sách, thiết bị dạy-học, phục vụ cho công cuộc đổi mới giáo dục, đổi mới chương trình thay sách.

Tiến độ xây dựng thư viên chuẩn 01 và thư viện tiên tiến năm sau nhiều hơn năm trước. Từ năm 2003-2004 về trước số thư viện đạt chuẩn 01 là 9, thư viện đạt tiên tiến là 2. Đến năm học 2004-2005, có 13 thư viện đạt chuản 01, 3 thư viện đạt tiên tiến; nâng tổng số thư viện đạt chuẩn theo Quyết định 01/QĐ ngày 02/01/2003 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT là 27 đơn vị (Trong đó có 5 thư viện đạt tiên tiến, đạt tỷ lệ 64,3%).

Tuy kinh phí hạn chế nhưng được sự quan tâm của ngành, đã đầu tư 200 triệu đồng xây dựng phòng thực hành chuẩn cho trường THCS, đóng tủ đựng cho các khối, lớp 1,2,3,4,5 để tại lớp học, giúp cho GV-HS tiện sử dụng. Nhằm thay thế đồ dùng đã hỏng và đồ dùng không thể đáp ứng việc dạy và học theo hướng “tích cực hoá hoạt động người học”, chuyên môn phòng GD đã trực tiếp chỉ đạo phong trào tự làm đồ dùng trong đội ngũ giáo viên, học sinh. Nhiều hội thi “Làm đồ dùng dạy học” được tổ chức; Nhiều sản phẩm có giá trị ra đời, được Sở GD-ĐT đánh giá cao. Các trường làm tốt phong trào này như: Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Triệu Đại, THCS Triệu Đông, THCS Triệu Thượng; Tiểu học Triệu Sơn; Tiểu học thị trấn Ái Tử; Tiểu học Trấm; Trường Mầm non Trung tâm huyện; Mầm non Triệu Trung, Mầm non Triệu Đông...Đồng thời chỉ đạo xây dựng được 11 trường THCS có phòng thực hành chuẩn; phòng học bộ môn...

 

* Công tác thanh tra:

Để sự nghiệp GD thực sự là quốc sách hàng đầu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, có một nhiệm vụ bức thiết đặt ra là phải tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý là phải nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra giáo dục. Để  thi hành luật giáo dục, Chính phủ đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Nghị quyết số 101/2002/NĐ-CP ngày 10/12/2002 về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục, thời gian qua, hệ thống tổ chức bộ máy thanh tra giáo dục của huyện có trên 25 cán bộ thanh tra kiêm nhiệm; 1 cán bộ chuyên trách thường trực công tác thanh tra, giúp cho ngành giải quyết, khiếu nại, tố cáo,  tiếp công dân. . . Thường xuyên chỉ đạo các cơ sở kiện toàn Ban thanh tra nhân dân. Thanh tra công tác quản lý chuyên môn, tuyển sinh, chương trình giảng dạy, dạy thêm, học thêm, thực hiện Phổ cập THCS, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Đặc biệt, năm học 2004 - 2005 đã thanh tra được 35/62 đơn vị trường học ( trong đó: Mầm non: 9/20 đơn vị, đạt tỷ lệ 45%, đơn vị xếp loại tốt: 3, khá: 4, trung bình: 2; Tiểu học: 17/27 đơn vị, đạt tỷ lệ 63%, (trong đó có 13 tốt, 3 khá, 3 trung bình). THCS:9/16 đơn vị, đạt tỷ lệ 56% (trong đó; tốt 7, khá 2). Thanh tra được 1/3 tổng số giáo viên theo quy định. Thanh tra việc bố trí cán bộ, giải quyết chính sách khen thưởng, kỷ luật; thanh tra việc quản lý tài chính, tài sản của các trường trên địa bàn.

Kế hoạch thanh tra đề ra, Phòng Giáo dục đã thực hiện vượt mức. Tất cả các đơn vị Mầm non, Tiểu học, THCS đều được Phòng đến thanh tra chuyên môn, thanh tra chuyên đề trong năm học; những đơn vị đăng ký danh hiệu thi đua cấp huyện , cấp tỉnh đều được Phòng thẩm định kiểm tra. Năm học 2004-2005, Phòng Giáo dục cùng với thanh tra kiêm nghiệm đã thanh tra toàn diện được 467 giáo viên ở ba bậc học, đồng thời giải quyết dứt điểm những đề xuất, nguyện vọng chính đáng của công dân theo quy định của pháp luật.

 

 

 

*  Công tác xã hội hoá giáo dục:

Hàng năm, bước vào năm học mới, 100% xã, thị trấn đều tiến hành tổ chức Đại hội Giáo dục. Văn phòng cơ quan Phòng Giáo dục huyện tổ chức sớm hơn (Vào giữa tháng 8) để xây dựng kế hoạch năm học, đề ra các chỉ tiêu, biện pháp thực hiện nhiệm vụ năm học mới.Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Giáo dục các cấp. 100% Hội đồng Giáo dục xã, thị trấn có quy chế hoạt động cụ thể, đảm bảo việc sinh hoạt hội họp, có biên bản những kỳ họp. Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhằm không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân và cộng đồng về xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục; vì vậy,đã huy động được mọi nguồn lực, đánh thức mọi tiềm năng từ trong nhân dân, trong các cơ quan, đoàn thể,trong mỗi họ tộc, trong mỗi cá nhân...Bên cạnh đó, đã thường xuyên tham gia cùng Hội đồng Giáo dục các cấp, đề ra những biện pháp để xử lý những vấn đề bức xúc, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, đẩy lùi tệ nạn xã hội, xây dựng và phát huy tốt đời sống văn hoá nhà trường; xây dựng quỹ khuyến học, đã huy động được 522.116 triệu đồng ( trong đó xã, thị trấn: 75 triệu; các thôn: 77.116.000 đồng; trường học:280.000 triệu đồng; dòng họ: 52 triệu đồng; huyện: 23.000 triệu đồng).

Tổ chức tốt các hoạt động của Hội cha mẹ học sinh, phối hợp hoạt động giữa Hội đồng Giáo dục với Hội khuyến học, Hội cựu chiến binh, Hội cựu giáo chức, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên... nhằm đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục trong tình hình mới.

Phòng Giáo dục phối hợp với Công đoàn ngành tổng kết phong trào thi đua trong 5 năm. Trong 5 năm qua (2000-2005), có 2 tập thể được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen; 2 tập thể và 3 cá nhân được Bộ Giáo dục- đào tạo khen; 31 tập thể, 37 cá nhân được UBND tỉnh khen thưởng; 18 tập thể và 40 cá nhân được giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo khen thưởng; 105 tập thể, 288 cá nhân được UBND huyện Triệu Phong khen thưởng. Nhận thức của toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục ngày càng được nâng cao. Cuộc vận động “Dân chủ-Kỉ cương-Tình thương-Trách nhiệm” được đẩy mạnh, giúp cho cán bộ, giáo viên không ngừng tự rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị, làm cho họ có thái độ tốt hơn trong ứng xử với đồng chí, đồng nghiệp, với học sinh và các bậc phụ huynh.

Năm năm liên tục (2000-2005), Phòng giáo dục được Sở GD-ĐT Quảng Trị khen đã hoàn thành tốt 11 chỉ tiêu công tác.

*

*     *

Giáo dục Triệu Phong ngày nay:

Đi lên từ truyền thống tốt đẹp, mọi giá trị tinh thần sẽ được phát huy và có sức mạnh thúc đẩy tự giác, bề bỉ hơn. Giáo dục Triệu Phong đã từng bước khẳng định mình ở tất cả các mặt. Hiện nay,toàn huyện có:

-         20 trường Mầm non, số trẻ huy động ở Nhà trẻ là: 746/4.118 cháu; Mẫu giáo 3.923/5.471 cháu.

-         27 trường Tiểu học, 16 Trường THCS, thu hút 23.388 học sinh.

-         3 Trường THPT, thu hút 1.867 học sinh.

-         1 Trung tâm GDTX, có trên 420 học sinh theo học.

-         1 Trung tâm KTTH-HN, hàng năm có khoảng 5.000 học sinh tham gia học nghề phổ thông.

-         65 Trung tâm học tập cộng đồng đã đi vào hoạt động có hiệu quả.

-         271 Chi hội khuyến học với 33.163 hội viên tham gia.

-         Học sinh vào lớp 10 hàng năm đạt tỉ lệ trên 90% trong tổng số học sinh tốt nghiệp THCS, một triển vọng sáng sủa cho việc Phổ cập THPT trong tương lai.

-         Cán bộ giáo viên chia theo trình độ đào tạo:

Ngành học

Tổng số

Đại học

Cao Đẳng

TH SP

Sơ cấp

Đảng viên

T.số

Nữ

T.số

Nữ

T.số

Nữ

T.số

Nữ

T.số

Nữ

T.số

Ch/bộ

Mầm non

73

73

03

03

09

09

57

57

04

04

52

03

Tiểu học

672

521

72

51

108

85

482

375

10

10

218

26

THCS

604

324

189

91

350

208

61

23

04

02

146

16

Ph. GD

13

02

08

01

01

0

03

01

01

0

09

01

T. cộng

 

1362

 

920

 

272

 

146

 

468

 

302

 

603

 

456

 

19

 

16

 

425

 

46

 

 

 

         *  Nhiệm vụ và giải pháp cơ bản của Giáo dục Triệu Phong từ 2005-2010:

“Tiếp tục quán triệt quan điểm Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đầu tư nâng cao chất lượng toàn diện, bao gồm: Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học; đội ngũ thầy cô giáo và những người làm công tác giáo dục; văn hoá, thể lực và đạo đức của học sinh nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực tốt nhất cho tương lai. Duy trì và nâng cao chất lượng phong trào xã hội hoá giáo dục. Tập trung mở rông quy mô, huy động số lượng, đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Củng cố và duy trì kết quả phổ cập GD Tiểu học- Xoá mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS; tiến tới phổ cập giáo dục THPT cho 15% số xã có điều kiện. Phấn đấu đến năm 2010 có 50% Trường Mầm non, 100% trường Tiểu học, 30% trường THCS và 70% Trường THPT đạt chuẩn Quốc gia.

         Tăng cường đào tạo nghề bằng nhiều hình thức, củng cố và phát triển các cơ sở dạy nghề hiện có. Từng bước đưa chương trình tin học, ngoại ngữ vào giảng dạy cho cả 3 cấp học.

 

         Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên Mầm non. Phấn đấu đến năm 2010, 100% giáo viên Mầm non đạt chuẩn. Huy động mọi nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho ngành học Mẫu giáo, đồng thời có giải pháp tốt để huy động các cháu đến trường Mầm non với tỉ lệ cao nhất.”(1)

         Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XVII, nhiệm kì 2005-2010 là kim chỉ nam, hoạch định một chặng đường mới cho sự nghiệp giáo dục Triệu Phong tiếp tục hành trang bước vào một giai đoạn mới. Phía trước còn lắm bộn bề và thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội. Đi lên từ truyền thống hiếu học và Cách mạng, bằng sức mạnh nội sinh vốn có từ bao đời, bằng khả năng khai thông ngoại lực của toàn xã hội

 
 
 


(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Triệu Phong lần thứ XVII, (Nhiệm kì 2005-2010)

         chăm lo, giúp đỡ cho sự nghiệp trồng người, chắc chắn giáo dục Triệu Phong sẽ có thêm thếlực để đi về phía trước.

 

        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THAY LỜI KẾT

 

         

          Dọc theo dòng chảy của thời gian với biết bao biến cố thăng trầm, với đặc điểm địa lí không thuận lợi, Triệu Phong luôn đối mặt với hạn hán, lũ lụt; là nơi xảy ra và gánh chịu nhiều tổn thất nặng nề của các cuộc chiến tranh khốc liệt để bảo vệ độc lâp-tự do của dân tộc; đã hun đúc nên ý chí quật cường, bản lĩnh cách mạng vững vàng của người dân Triệu Phong.

          Lịch sử giáo dục Triệu Phong (1945-2005) là một phần của đời sống quê hương, là một bộ phận gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng bộ, nhân dân Triệu Phong.

          Đi lên từ một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, biết bao thế hệ con em Triệu Phong đã trưởng thành. Từ xa xưa, Quảng Trị có 17 vị đại khoa thì Triệu Phong chiếm 07 người. Trong thời kì kháng chiến chống Thực dân, Đế quốc và kiến thiết quê hương, Triệu Phong cũng đã sản sinh nhiều nhân tài kiệt xuất trên mọi lĩnh vực: Chính trị, Văn hoá, Quân sự, Khoa học kĩ thuật... , chính họ đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta và quê hương đất nước ta. Đã khẳng định Triệu Phong là quê hương có truyền thống cách mạng, truyền thống hiếu học.

 

          Giáo dục Triệu Phong từ cách mạng Tháng Tám đến nay đã có những bước tiến mới, gian khổ mà vinh quang, thu được nhiều kinh nghiệm giàu ý nghĩa thực tiễn và lí luận. Đạt được nhiều kết quả đáng tự hào. Kết quả ở nhiều ngành học: Mẫu giáo, Bổ túc văn hoá, Phổ thông, Dạy nghề. Kết quả trên nhiều bình diện: Từ đường lối tổ chức, xây dựng cơ sở vật chất, phối hợp liên ngành, xã hội hoá giáo dục đến công tác phổ cập, chống mù chữ. . . Bấy nhiêu thành tích vẻ vang đó là do công sức của toàn dân đóng góp; trong đó, bản thân ngành giáo dục có phần cống hiến tích cực của mình. Đây  là kết quả của đường lối giáo dục mà Đảng, Nhà nước đã hoạch định ra phương hường chung cho sự nghiệp lâu dài, cho từng giai đoạn, cho từng thời kì cụ thể. Trong tất cả những thành quả rực rỡ ấy vẫn lấp lánh những ánh hào quang của truyền thống giáo dục Việt Nam-Giáo dục huyện nhà, nó được nâng lên thêm bởi khả năng phát huy của thời đại mới; chính thời đại mới này đã làm cho truyền thống giáo dục Triệu Phong thêm sáng rõ.

          Lịch sử không thuộc về dĩ vãng, lịch sử vẫn tồn tại với sức năng động của nó trong mỗi khoảnh khắc của hiện tại và tương lai với bất cứ ai còn giữ lòng biết ơn Nhân Dân. Nếu quên đi, chúng ta không còn sức mạnh để đi tới đích phía trước.

          Trên bước đường đi tới tương lai, giáo dục Triệu Phong sẽ viết tiếp những trang sử vẻ vang trong thời đại mới-Thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

 

 

 

 

 

Phụ lục1

DANH SÁCH

CÁC VỊ ĐẠI KHOA TRIỆU PHONG QUA CÁC THỜI KÌ (TỪ 1502-1919)

 

*/ Những người đỗ Tiến sĩ:

1. Nguyễn Thế Trị, người làng Hương Liệu, Triệu Phong, sinh năm Giáp Tí (1804). Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Ất Mùi, năm Minh Mạnh thứ 16.

2. Nguyễn Chương, người  làng Vĩnh Hoà, Triệu Phong, Sinh năm 1812. Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Thiệu Trị thứ 4(1844)

3. Võ Văn Lương, người làng Đậu Kênh, Triệu Phong, sinh năm 1833. Đỗ Tiến sĩ võ năm Tự Đức thứ 19(1865).

4. Đỗ Văn Kiệt, người làng Bích La, Triệu Phong. Đỗ Tiến sĩ võ năm Tự Đức thứ 21(1868)

5. Lê Thụy, người làng Bích La, Triệu Phong, sinh năm Nhâm Dần(1842). Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Ất Hợi, năm Tự Đức thứ 28(1875)

6. Hoàng Hữu Bính, người làng Bích Khê, Triệu Phong, sinh năm Đinh Tị(1857). Đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ, xuất thân hoàng giáp, khoa Kỉ Sửu năm Thành Thái thứ nhất (1889).

7. Nguyễn Hàm, người làng An Cư, Triệu Phong, sinh năm Mậu Ngọ (1882). Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Canh Tuất, năm Duy Tân thứ 4 (1910).

 

*/ Những người đỗ Phó bảng:

          1.  Lê Đình Giao, người làng Bồ Bản, Triệu Phong. Đỗ Phó bảng khoa Tân Hợi, năm Tự Đức thứ 4 (1851)

          2.  Võ Tử Văn, người làng Nại Cửu, Triệu Phong, sinh năm 1830. Đỗ Phó bảng khoa Tân Hợi, năm Tự Đức thứ 4 (1851).

          3.  Lê Đức Dĩnh, người làng Quảng Điền, Triệu Phong. Đỗ Phó bảng khoa Tân Hợi, năm Tự Đức thứ 4 (1851).

          4.  Trần Viết Thọ, người làng Thâm Triều, Triệu Phong, sinh năm Bính Thân (1836). Đỗ Phó bảng khoa Tân Mùi, năm Tự đức thứ 21 (1871).

          5.  Lê Đăng Trinh, người làng Bích La, Triệu Phong, sinh năm Canh Tuất (1850). Đỗ Phó bảng khoa Ất Hợi, năm Tự Đức thứ 28 (1875).

          6.   Hoàng Hữu Hoàn, người làng Bích Khê, Triệu Phong, sinh năm Kỉ Tị (1869). Đỗ Phó bảng khoa Ất Mùi, năm Thành Thái thứ 7 (1895).

 

 

 

DANH SÁCH NHÀ GIÁO ƯU TÚ HUYỆN TRIỆU PHONG

 

 

          1. Nguyễn Hữu Quang, sinh năm 1935 người làng An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong; nguyên Trưởng phòng giáo dục huyện Triệu Phong.

          2. Hoàng Minh Long, sinh năm 1937người làng Nại Cửu, Triệu Đông, Triệu Phong; nguyên Hiệu trưởng trường THPT Thị xã Quảng Trị.

          3. Lê Biểu, sinh năm 1940 người làng Nại Cửu, Triệu Đông, Triệu Phong; nguyên giáo viên trường THPT Thị xã Quảng Trị.

 

 

PHỤ LỤC2

DANH SÁCH MỘT SỐ ĐỒNG CHÍ QUÊ TRIỆU PHONG

GIỮ CÁC CHỨC VỤ CAO TRONG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ QUÂN ĐỘI

 TỪ TRƯỚC TỚI NAY

STT

HỌ TÊN

QUÊ QUÁN

CHỨC VỤ VÀ NƠI CÔNG TÁC

1

Lê Duẩn

Triệu Thành-Triệu Phong

Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

2

Trần Hữu Dực

Triệu Thuận-Triệu Phong

UV TW Đảng, Phó thủ tướng chính phủ

3

Đặng  Thí

Triệu Thành-Triệu Phong

UV TW Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng chính phủ

4

Trần Quỳnh

Triệu Đông-Triệu Phong

UV TW Đảng, Phó thủ tướng

5

Đoàn Khuê

Triệu Lăng-Triệu Phong

UV Bộ chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng

6

Nguyễn Hữu Hiếu

Triệu Vân, Triệu Phong

UVTW Đảng, Bộ trưởng Bộ lao động.

7

Đoàn Chương

Triệu Lăng-Triệu Phong

Trung tướng, Viện trưởng Viện chiến lược quân sự.

8

Hoàng Thị Ái

Triệu Long, Triệu Phong

Phó chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nạm

9

Lê Chưởng

Triệu Trạch, Triệu Phong

Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục

10

Lê Thị Diệu Muội

Triệu An, Triệu Phong

Thứ trưởng Bộ nội thương

11

Nguyễn Quang Xá

Triệu Trạch, Triệu Phong

Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước

12

Nguyễn Văn Dũng

Triệu Hoà, Triệu Phong

Thứ trưởng Bộ công nghiệp

13

Lê Kim Lăng

Triệu Đông-Triệu Phong

Thứ trưởng Bộ ngoại thương

14

Nguyễn Vức(1906-1971)

Triệu Lương, Triệu Phong

Năm 1939 là Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Trị(theo biên niên các Bí thư Quảng Trị của Thanh Sơn)

(Theo tư liệu rút từ “Người Quảng Trị” do Hồ sĩ Vịnh chủ biên-Nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia, Hà Nội 2005) và các tài liệu khác